VÔ NGẠI – ĐIỂM THEN CHỐT CỦA TÍNH VIÊN DUNG

SHARE:

Đối thoại trong chương trước đã chỉ cho thấy rõ ràng chủ đề trung tâm của triết học Hoa Nghiêm vốn xoay quanh khái niệm về cảnh giới. Viên Dung và Vô Ngại có lẽ trở nên mất hết ý nghĩa nếu không có các cảnh giới, bởi vì chính ý nghĩa của tính Viên Dung được định nghĩa ở đây như là sự bao hàm tất cả các cảnh giới, và Vô Ngại thì như là những khả tính vô lượng vô biên không cùng tận của những sự tương nhập của chúng.

Nhưng một cảnh giới là gì? Một cảnh giới như thông thường được hiểu, là một khu vực hay một phạm vi mà bên trong nó những hoạt động nào đó, những tư tưởng nào đó hay những ảnh hưởng nào đó xảy ra; vì vậy một cảnh giới luôn luôn ngụ ý một lãnh địa với những biên giới xác định rõ ràng. Đây là một minh họa đơn giản: một ly nước được nhìn thấy bởi những người bình thường như chỉ là một chất lỏng làm đã khát; nó được nhìn bởi một nhà hóa học như là một hợp chất hydrogen và oxygen; bởi một nhà vật lý như là một hệ phức tạp của những chuyển động điện tử; bởi một triết gia như là một cái gì đó bày tỏ sự tương quan nhân quả; bởi Đức Phật như là sự hiển hiện hay sự lưu xuất của Phật giới siêu phàm.

Từ thí dụ đơn giản này chúng ta có thể suy ra vài lý lẽ mà chúng có thể lần lượt được sử dụng để miêu tả sự tương nhập hay hỗ nhập của những cảnh giới. Hội tụ bên trong một vật thể đơn giản này – một tách nước là vô số các cảnh giới; chúng đồng thời hiện hữu cùng nhau theo một cách hết sức huyền bí. Một mặt chúng “sống âm thầm”, mỗi cảnh giới bên trong phạm vi của riêng nó mà không hề nhảy ra ngoài những giới hạn; và mặt khác chúng “sống một cách hài hòa với nhau” mà không hề tạo ra một ngăn ngại hay quấy rầy nhỏ nhặt nhất nào cho những cảnh giới khác. Sự kiện rằng nước có thể được dùng như là một phương tiện làm ta đã khát không hề ngăn ngại nó cũng là $H_2O$, một phức hợp của những chuyển động điện tử, một sự hiển lộ của tương quan nhân quả và tất cả những gì còn lại. Trên một cấp độ hay trong một cảnh giới, nước là một phương tiện mà ta có thể dùng nó dập tắt lửa, nhưng ở một cấp độ khác, nó là một phương tiện mà từ đó ta có thể rút ra nhiên liệu (hydro) để đốt một ngọn lửa. Như thế những định hướng và định giá của cùng một vật thể có thể hoàn toàn trái ngược nhau khi khung quy chiếu được thiết đặt trong nhiều cách khác nhau, hoặc khi nó được nhìn ngó từ những góc cạnh khác nhau.

Sự kiện rằng những cảnh giới khác nhau có thể cùng tồn tại hiện hữu với nhau bên trong cùng một vật thể được đề cập đến bởi những triết gia Hoa Nghiêm như là chân lý “đồng thời câu khởi”, và sự kiện rằng những cảnh giới khác nhau này trong khi đồng thời tồn tại hiện hữu vẫn không làm ngăn ngại hay phá hoại nhau, mà viên dung tương nhập nhau theo một cách hài hòa hợp điệu được đề cập đến như là chân lý “đồng thời vô ngại”.

Đồng thời câu khởi và đồng thời vô ngại là hai thuật ngữ quan trọng thường được sử dụng trong văn học Hoa Nghiêm; chúng ta sẽ luận giải chúng đầy đủ hơn trong chốc lát sau, nhưng ở đây chúng nhắc nhở chúng ta về một điểm quan trọng rằng thực chất bên trong tâm trí con người vốn không đồng thời câu khởi hay đồng thời vô ngại. Vào lúc chúng ta nghĩ đến nước như là một phương tiện làm đã khát, thì chúng ta không thể nghĩ về nó như là $H_2O$, như là những chuyển động điện tử v.v…. và chúng ta bắt buộc phải chuyển đổi những cảnh giới liên tiếp để hiểu rõ chúng. Điều này cho thấy rằng lề lối tư duy của con người luôn luôn theo lối tiếp cận “mỗi lúc một mà thôi” và “chuyển đổi cảnh giới” vốn có đặc tính phản hoặc không đồng thời câu khởi. Đây là một minh họa: Một nhà quản trị đại tài nhưng luôn bị áp lực công việc có sáu cái điện thoại, đang ngồi nơi bàn làm việc của anh ta, mỗi cái điện thoại riêng biệt được nối với một ban của công ty anh ta. Anh ta thường có thể xử lý hai cú gọi đồng thời và đôi khi cả ba cú nữa. Anh ta có thể “chuyển đổi những cảnh giới” rất nhanh và rất êm thấm đến độ anh ta hầu như đạt đến mức “đồng thời giải quyết”, nhưng đôi lúc anh ta thậm chí bị ném ra khỏi thiết bị một cách vô vọng khi mà tất cả sáu cái điện thoại đồng thời cùng reo lên.

Ngược lại với lối tiếp cận chuyển đổi cảnh giới và mỗi lần chỉ một được tuân thủ bởi tâm trí con người. Tâm toàn tri hay Nhất Thiết Trí Tâm của cảnh giới Phật “làm theo” một lối tiếp cận hoàn toàn khác hẳn trong những hoạt động của nó. Một tâm trí thấy tất cả ắt phải không và không thể theo lối tiếp cận chuyển đổi cảnh giới và mỗi lần chỉ một bao giờ; nó ắt phải thấy muôn vật trong những cảnh giới vô lượng vô biên, cái này tương nhập trong cái kia, tất cả đều đồng thời câu khởi trên một phạm vi vô cùng mênh mông to lớn!

Nếu trong một phút chốc nào đó, chúng ta bước ra khỏi lối hành xử hời hợt và máy móc, và xem xét từng điểm một những sự vật chung quanh chúng ta, chúng ta sẽ khám phá ra một sự huyền bí diệu kỳ và kinh khiếp biết bao. Hãy ngắm nhìn bất cứ vật thể nào đang ở trước mặt bạn – một tách nước, một cái bàn, khói lan tỏa bay lên từ một cây nhang trầm – trong mỗi vật thể và tất cả vật thể trong một căn phòng nhỏ, ôi biết bao nhiêu vô số sự vật của vô lượng vô biên cảnh giới hiện giờ đang hiện hữu ngay trước mặt bạn; thế mà bạn lại không nhìn thấy chúng mới lạ chứ! Nhưng đây chỉ là một hình ảnh về một căn phòng, sẽ còn vĩ đại hơn cái hình ảnh cảnh giới toàn thể của căn nhà, của chung cư, của thành phố, của quốc gia, của địa cầu, của thái dương hệ, của vũ trụ và của toàn thể pháp giới…

Một Tâm nhất thiết trí ắt hẳn là phải thấy một toàn cảnh kỳ diệu và vô cùng to lớn biết bao! Nhưng thấy được toàn cảnh của sự đồng thời câu khởi viên dung này sẽ không thể khả hữu nếu không có một sự hiện chứng tính đồng thời Vô Ngại. Tính đồng thời viên dung có hơi hướng của “dáng dấp bên ngoài” hay sự hiển lộ của tính Viên dung, còn tính đồng thời Vô Ngại ngụ ý sự “tương quan bên trong” hay “sự kết cấu” giữa những cảnh giới khác nhau như được nhìn từ quan điểm Viên Dung. Về Bản thể mà nói thì đồng thời Vô Ngại còn quan trọng hơn cả đồng thời câu khởi; chính chỉ qua sự hiện chứng tính Vô Ngại thì sự hiển bày của tính Viên Dung mới có thể làm cho khả hữu được. Do đó, tính Vô Ngại là cốt lõi của triết học Hoa Nghiêm. Nhưng ngăn ngại là gì? Như được hiểu theo cảm quan thông thường thì ngăn ngại hay trở ngại là một cái gì đó ngăn chận hay đứng ngáng đường chặn lối một vấn đề hay hành động nào đó. Tuy thế ngăn ngại như được hiểu trong Hoa Nghiêm có một ý nghĩa rộng hơn nghĩa này; nó ngụ ý đề cập đến những “bức tường, ranh giới” đứng giữa những cảnh giới khác nhau. Để giải thích điều này, chúng ta hãy trở lại thí dụ của chúng ta về tách nước.

Trong đó chúng ta thấy rất nhiều cảnh giới. Mặc dù những cảnh giới khác nhau này đồng thời hiện hữu và đồng thời tương nhập theo một cách hài hòa hợp điệu nhất, nhưng phân cách giữa chúng ta là “những bức tường biên giới” xác định rõ ràng. Những bức tường biên giới này có thể là “hữu hình” hay “khó nắm bắt”, hoặc “cụ thể” hay “trừu tượng”, “vững chắc” hay “có thể phá vỡ được”, “cứng cỏi” hay “dễ phục tùng”, nhưng tất cả chúng đều có một chức năng giới hạn hay hạn chế rõ ràng. Chúng ta có thể dùng một minh họa để soi sáng điểm này: một người không có sự rèn luyện gì về khoa học có thể uống một ngàn tách nước hoặc lặn xuống biển sâu một trăm lần, nhưng việc này cũng sẽ không làm cho anh ta hiểu được cấu trúc hóa học và vật lý của nước. Anh ta bị giới hạn bên trong những biên giới của một cảnh giới nào đó và không có khả năng chọc thủng chúng. Để hiểu được cấu trúc hóa học, anh ta phải xuyên thủng những bức tường biên giới mà cho đến giờ vẫn đã giới hạn anh ta trong cảnh giới của vô minh. Những gì anh ta cần không phải là sự lập lại những thí nghiệm đưa đến cái đã được biết rồi, mà là một lối tiếp cận mới và một định hướng mới vốn sẽ hướng dẫn anh ta xuyên thủng những bức tường ranh giới này. Nhóm từ “chọc thủng” đã được nghe rất thường đến độ chúng ta có khuynh hướng quên mất ý nghĩa và những ẩn ý của nó. Chọc thủng có nghĩa không những là xé ra từng mảnh cái “bức tường biên giới” đứng ngăn giữa những cảnh giới cũ và cảnh giới mới mà nó còn ngụ ý sự nới rộng ra và sự hợp nhất của cả hai. Một sự chọc thủng có tính cách mạng luôn luôn đòi hỏi rất nhiều kiên nhẫn, cố gắng và tuệ giác minh mẫn – một biểu thị rõ ràng về chức năng giới hạn dứt khoát của những bức tường biên giới. Những “bức tường” này dĩ nhiên là không nên được coi như là một cái gì cụ thể ở thế giới bên ngoài. Chúng chỉ là những khái niệm trừu tượng biểu thị những chức năng giới hạn hay hạn chế của một cảnh giới. Theo cách diễn đạt của Hoa Nghiêm, chúng là những “chướng ngại vật” cản đường Viên Dung. Sự loại bỏ hoàn toàn những “bức tường chướng ngại” này sẽ cho phép ta đạt đến cảnh giới Vô Ngại, vốn lại là mục đích và cốt lõi của Hoa Nghiêm.

Đến đây ta có thể hỏi: “Bởi vì những chướng ngại vật hay những “bức tường biên giới” thì vô lượng vô biên như là chính những cảnh giới vô lượng vô biên, thì làm thế nào có thể cho ta phá sập tất cả chúng được chứ?”. Câu trả lời là mặc dù những chướng ngại vật là vô số, nhưng tất cả chúng đều xuất phát từ một chướng ngại cơ bản, đó là ý tưởng về tự ngã hay hiện thể. Một khi cái nền tảng của tự ngã này bị tiêu diệt, thì tất cả những kiến trúc được xây dựng trên nó cũng sẽ bị sụp đổ. Ý tưởng về Tự ngã, cái gốc rễ nguyên sơ mà từ đó tất cả mọi ý tưởng khác phát sinh, do đó là nguồn cội của tất cả những chướng ngại. Cái ý tưởng tự ngã thâm căn cố đế, lì lợm và lan tràn khắp này là chướng ngại chính yếu cản đường tính Viên Dung và sự tự do giải thoát của chúng ta. Thay vì tôn vinh và thần thánh hóa nó như những triết gia và những nhà thần học của cả hai truyền thống Đông Phương và Tây Phương đã làm, thì Phật Giáo lại nhấn mạnh vào những khía cạnh khổ não và ảo tưởng về tự ngã và vào sự quan trọng của việc hủy diệt nó. Một cách ngôn Thiền đã soi sáng điểm này rất rõ: “Vạn pháp quy về Một; vậy Một quy về chỗ nào?” Sự xuyên thủng vĩ đại nhất vốn đã từng có thể thành tựu được bởi con người là sự nghiền nát khối chướng ngại vật “tự ngã” và “một” mà nói theo tâm lý học là một khuynh hướng tâm lý thâm căn bám víu vào các sự vật, một hình thức của sự chấp thủ hiển hiện trong thái độ cả quyết tùy tiện, độc đoán. Tính Viên dung không thể đến gần được nếu không có sự tận diệt hoàn toàn sự chấp thủ cơ bản này, và Tính Vô Ngại cũng không thể hiện chứng được nếu không có một sự thức ngộ cái chân lý “Vô Ngã”, vốn là Tánh Không – cốt lõi và tinh túy của Phật Giáo.

Tính Vô Ngại như được miêu tả bởi Hoa Nghiêm do đó được xoay quanh giáo lý Tánh Không; vì chỉ Tánh Không, cái tự nó vốn không có biên giới và chướng ngại, mới có thể “giải tan” tất cả mọi chướng ngại được.

Chúng ta sẽ soạn thảo tỉ mỉ nguyên lý về Tánh Không và Vô Ngại chi tiết hơn sau này. Nhưng trước hết chúng ta hãy đọc một mẫu chuyện nổi tiếng về phương pháp xảo diệu minh họa cảnh giới Viên Dung Vô Ngại của Đại Sư Pháp Tạng (643-712) cho Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên của Triều Đường, triều đại cai trị từ 684-704 AD.

LÂU ĐÀI GƯƠNG CỦA PHÁP TẠNG

Trong thời kỳ đại hoàng kim của đời Đường khi mà những người Trung Hoa trong tất cả mọi lãnh vực của cuộc sống đều vui hưởng sự thịnh vượng và tiến bộ của thời đó, và khi mà cảm hứng văn hóa và tâm linh được nâng cao lên trong sự phong phú và thành công, thì Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên đã có một sự quan tâm đặc biệt trong việc hộ trì Phật giáo. Bà bị hấp dẫn bởi giáo lý quyến rũ của tôn giáo từ nước ngoài vào này đến độ (trước khi trở thành Nữ Hoàng) bà đã từng sống một đời sống nữ tu trong một Ni Viện vài năm. Sau đó, Võ Tắc Thiên rời bỏ khỏi Ni Viện và kết hợp với Vua Cao Tông trong cung điện làm thứ phi của nhà vua. Khi Cao Tông chết bà soán ngôi và trở thành Nữ Hoàng đầu tiên – và cũng là cuối cùng trong lịch sử Trung Hoa. Bấy giờ bà đã cai trị vương quốc một cách thành công trong 20 năm. Bà đã bị thù ghét và được yêu thương, bị lên án và được ngưỡng mộ bởi những người đương thời và cả những người hậu thế, và bà đã là một nhân vật còn trong vòng tranh cãi qua nhiều thế kỷ. Nhưng không ai có thể phủ nhận sự kiện rằng người đàn bà phi thường này là một trong những nhà chính trị vĩ đại nhất từng xuất hiện trong lịch sử Trung Hoa.

Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên không những là một người hộ trì lớn lao cho Phật giáo mà theo tôi còn là một nhà Phật học rất đáng chú ý. Bài “khai kinh kệ” nổi tiếng của bà rất hay đến độ nó đã được trì tụng bởi tất cả Phật tử ở Trung Hoa suốt nhiều thế kỷ. Sự ưa thích sâu xa của bà đối với Hoa Nghiêm đã khiến bà gởi một sứ giả đến xứ Vu Điền (Turkestan thuộc Trung Hoa), để có một bản Kinh Hoa Nghiêm đầy đủ hơn. Dưới sự bảo trợ của bà, bản dịch 80 quyển của kinh này được phiên dịch qua những nỗ lực cộng tác của những nhà sư uyên bác Trung Hoa và nước ngoài dưới sự chủ đạo của nhà Phạn ngữ học danh tiếng Thực Xoa Nan Đà (Siksananda). Người ta nói rằng trong thời gian dịch thuật Nữ Hoàng thường tự mình đến tu viện để dâng thực phẩm cúng dường cho các Sư. Tháng 10 năm 699 sau Công Nguyên, công tác phiên dịch được hoàn tất, và một lời tựa rất hay cho bộ kinh được chính Nữ Hoàng viết để tỏ lòng tôn kính công trình dịch thuật vĩ đại này.

Lúc ấy bà cung thỉnh Đại sư Pháp Tạng về Trường An để thuyết giảng Kinh Hoa Nghiêm theo sự soi sáng của bản dịch mới này. Khi ngài bắt đầu thuyết giảng chương “Hoa Tạng thế giới”, thì quả đất rung chuyển suốt một giờ đồng hồ như là một báo hiệu điềm lành cho dịp này. Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên đã vô cùng hoan hỉ.

Cũng trong ngày ấy, bà đã thỉnh Pháp Tạng vào cung và tham vấn ngài giáo lý Hoa Nghiêm về mười điều huyền diệu, về Lưới Trời Đế Thích, về Hải ấn Tam Muội, về nguyên lý của lục tướng v.v… Với sự uyên bác và trí tuệ phi thường, Pháp Tạng đã thuyết giảng chúng một cách thông suốt và rất hay – nhưng những giáo lý này quá sâu sắc không thể thấu hiểu ngay lập tức được, ngay cả đối với một tâm trí minh mẫn và thông tuệ như là tâm trí của Võ Tắc Thiên. Trong bài pháp đầu tiên bà đã bị bối rối. Ngạc nhiên và say mê thích thú bởi bài thuyết pháp của Pháp Tạng, bà luôn hỏi đi hỏi lại ngài rất nhiều lần. Pháp Tạng bèn nhìn quanh để tìm một minh họa và thấy một con sư tử bằng vàng đang đứng ở một góc điện. Ngài đi đến sư tử và bảo bà chú ý vào nó, rồi thuyết một bài pháp rất chi li về “con sư tử vàng” trong đó ngài minh họa những tinh túy của triết lý Hoa Nghiêm bằng cách sử dụng con sư tử như là một ẩn dụ và do vậy khiến Nữ Hoàng đạt được sự thấu hiểu nhanh chóng về Giáo lý Hoa Nghiêm.

Một hôm Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên hỏi Pháp Tạng câu hỏi như sau: “Kính bạch thầy, con đã hiểu rằng kiến thức của con người có được bằng hai cách, một là do kinh nghiệm một cách trực tiếp, và hai là do suy luận một cách gián tiếp. Con cũng hiểu rằng năm thức đầu tiên và thức A-lại-da chỉ theo lối tiếp cận trực tiếp còn tâm ý thức hay thức thứ sáu thì có thể theo cả hai lối tiếp cận trực tiếp và gián tiếp. Do đó những khám phá của tâm ý thức thì không luôn luôn đáng tin cậy. Tính ưu việt và đáng tin cậy của kinh nghiệm trực tiếp hơn hẳn sự suy luận gián tiếp đã được dạy trong rất nhiều kinh điển. Thầy đã giảng giải giáo lý Hoa Nghiêm cho con với sự sáng tỏ và vi diệu vô cùng; đôi lúc con hầu như có thể thấy được Pháp giới vô biên trong mắt tâm của con và có thể đạt đến vài điểm chỗ này chỗ nọ trong tính Viên Dung vĩ đại. Nhưng con nhận thấy rằng tất cả những điều này chỉ là một việc phỏng đoán có tính cách gián tiếp hay đoán chừng mà thôi. Ta không thể thực sự hiểu được tính Viên Dung trong một cảm nhận tức thì trước khi đạt đến sự giác ngộ. Tuy nhiên với thiên tài của thầy, con không hiểu liệu thầy có thể cho con một sự biểu thị chứng minh hiển bày sự huyền diệu của Pháp giới hay không – kể cả những điều kỳ diệu như là “tất cả trong một” và “một trong tất cả”, sự đồng thời câu khởi của tất cả mọi cảnh giới, sự tương dung tương nhập của tất cả các pháp, tính Vô Ngại của không gian và thời gian và các điều đại loại như vậy?”

Sau một chốc suy nghĩ, Pháp Tạng nói: “Tôi sẽ cố gắng, tâu Bệ hạ. Sự biểu thị chứng minh sẽ được chuẩn bị rất chóng thôi ạ!”.

Vài ngày sau, Pháp Tạng đến gặp Nữ Hoàng và nói: “Tâu Bệ hạ, giờ đây tôi đã sẵn sàng. Xin bệ hạ hãy cùng tôi đến nơi mà sự biểu thị chứng minh sẽ được trình bày ạ!”. Ngài liền hướng dẫn Nữ Hoàng vào một căn phòng được lót bằng những tấm gương. Trên trần nhà và nền nhà, trên tất cả bốn bức tường và ngay cả ở bốn góc của căn phòng đều được lắp đặt những tấm gương lớn – tất cả đều hướng mặt về nhau. Rồi Pháp Tạng đưa ra một bức tượng Phật và đặt nó vào trung tâm của căn phòng với một cây đuốc đang cháy bên cạnh bức tượng. “Ô! Thật là lạ lùng! Thật là tuyệt diệu!” Nữ Hoàng kêu lên khi bà chăm chú nhìn vào toàn cảnh gây kinh người này về những phản chiếu vô cùng vô tận. Một cách từ tốn và trầm tĩnh Pháp Tạng diễn giảng cho bà:

“Tâu bệ hạ, đây là một biểu thị chứng minh tính Viên Dung trong Pháp giới. Trong mỗi một tấm gương và mọi tấm gương bên trong căn phòng này, bệ hạ sẽ thấy những phản chiếu của tất cả những tấm gương khác với hình tượng của Đức Phật trong chúng. Và trong mỗi một và mọi phản chiếu của bất cứ tấm gương nào, bệ hạ sẽ thấy tất cả những phản chiếu của tất cả những tấm gương khác cùng với hình tượng Đức Phật cá biệt trong mỗi tấm gương không hề sót mất hay sai chỗ. Nguyên lý tương dung tương nhập đã được trình bày rõ ràng trong sự biểu thị chứng minh này. Ngay đây chúng ta có thể thấy được một điển hình của “một trong tất cả” và “tất cả trong một” – sự huyền diệu của trùng trùng vô tận cảnh giới do đó được hiển bày. Nguyên lý đồng thời câu khởi của những cảnh giới sai biệt thì quá rõ ràng hiển nhiên ở đây đến độ không một giải thích nào là cần thiết. Những phản chiếu vô cùng vô tận này của những cảnh giới sai biệt giờ đây đã đồng thời câu khởi mà không hề có một cố gắng tối thiểu nào; chúng chỉ tự nhiên như nhiên hiển hiện như thế trong một cách hài hòa hợp điệu hoàn hảo nhất…”

Vì thế, chính qua sự tu hành vun quén những ý chí hành động vị tha này mà những chướng ngại cản trở hội nhập Pháp giới được tận diệt và tính thể Viên Dung được kiến chiếu. Vì đức hạnh và lòng vị tha không những khước từ ngã chấp mà còn khẳng định tính đồng nhất lợi ích của ta trong lợi ích của những người khác mà theo thuật ngữ Hoa Nghiêm được gọi là những chủng tử của sự hỗ nhập và hỗ tức của Pháp giới.

6. Bởi vì tất cả pháp đều giống như những phản chiếu hay hình ảnh.
7. Bởi vì những chủng tử vô lượng vô biên (của các hạnh) được vun trồng.
8. Bởi vì Đức Phật đã cùng tận hết tất cả mọi hiện chứng.
9. Bởi vì Định lực sâu xa đã khiến nó như vậy.
10. Bởi vì năng lực thần thông và pháp giải thoát cho phép các pháp tương dung hỗ nhập hoàn toàn mà không có ngăn ngại gì cả.
Trong số 10 lý do này, sáu lý do đầu có thể được cho là để mô tả Pháp tánh, và chính nhờ vào chúng mà công hạnh và sự trang nghiêm rực rỡ của cảnh giới Phật mới được làm cho có thể khả hữu được. Lý do thứ bảy nhấn mạnh vào sự tu tập tâm linh vốn sẽ làm phát sinh Phật quả; lý do thứ tám nhấn mạnh vào công đức của nó, và lý do thứ chín và mười thì nhấn mạnh vào diệu dụng và du hí thần thông của nó.
Rõ ràng là sáu lý lẽ đầu tiên đều có tính chất triết học được đưa ra để giải thích nguyên do của Pháp Giới, và bốn lý lẽ còn lại có tính chất tôn giáo cho vấn đề pháp môn và nhân vật. Nhưng thuyết giảng 10 lý do này theo chuỗi liên tiếp nguyên gốc của chúng vốn cũng không giúp ích gì lắm, vì thế chúng tôi sẽ đảo ngược thứ tự và luận giải bốn lý do cuối cùng trước.
Hỏi: Những gì đã khiến Đức Phật hiện chứng được thể tính Viên Dung hỗ nhập vô lượng vô biên này? (Lý do 7, 8, 9 và 10 nói trên)
7. Bởi vì những chủng tử vô lượng vô biên (của các hạnh) được vun trồng bởi Đức Phật.
8. Bởi vì Đức Phật đã cùng tận hết tất cả mọi hiện chứng.
9. Bởi vì Định lực sâu xa đã khiến nó như vậy.
10. Bởi vì thần lực của Đức Phật vốn tự do tự tại phi thường kỳ diệu.

Nếu, trong sự phân tích rốt cùng, Cảnh giới Viên Dung chỉ có thể trực nhận được bởi kinh nghiệm trực tiếp chứ không phải bởi lý luận như Hoa Nghiêm đã nhấn mạnh, thì sự cần thiết của việc thực hiện vài biện pháp để giải tỏa những rào cản hay chướng ngại vốn cản trở sự kiến chiếu Pháp Giới sẽ trở nên hiển nhiên và rõ ràng. Trong số nhiều chướng ngại cản đường vươn đến Pháp Giới thì chướng ngại cơ bản là ngã chấp, vốn là một khuynh hướng lì lợm luôn bám vào một cái ngã nhỏ hẹp và khép kín cùng với những sở hữu lợi ích của nó (ngã sở). Cốt lõi của nó là loại trừ, độc chiếm; hoạt dụng của nó là phân ly, chia rẽ. Hậu quả của ngã chấp như con người đã chứng kiến là sự sản sinh ra những xung đột, đau khổ và tội ác. Bởi vì ngã chấp tự bản chất vốn là độc chiếm chứ không bao hàm, vốn loại trừ chứ không dung nhiếp, vốn xung đột chứ không hài hòa hợp điệu, nó là một cái gì hoàn toàn trái với sự hài hòa hợp điệu, tương dung tương nhiếp của Pháp giới. Do đó thật là dễ dàng cho ta thấy rằng ngã chấp ngăn ngại hơn là hỗ trợ sự hiện chứng Pháp giới. Vậy thì cái gì có thể được coi như là sẽ đưa đến sự hiện chứng Pháp giới? Pháp giới là cái toàn thể, là cái không biên giới, là thiện tâm và lòng từ ái. Chính dựa vào nền tảng này mà lý do thứ bảy đã đưa ra lời công bố của nó. Tại sao? Bởi vì đức hạnh và thiện tâm, trong bất kỳ hình thức nào có thể nhận thức được, đều luôn luôn ngụ ý một sự buông xả nào đó cái “bản ngã nhỏ nhen ti tiện” và một sự khẳng định tính hài hòa và hợp nhất. Chúng vốn thực chất thuộc về bản tính của Pháp giới. Do vậy người ta nói trong Kinh Hoa Nghiêm rằng trong suốt những tiền kiếp lâu xa của Ngài khi Ngài vẫn còn là một Bồ Tát luôn phấn đấu tu hành để đạt được Giác ngộ, Đức Phật vun trồng những chủng tử đức hạnh về:
• Một tâm đại bi vô biên luôn mong muốn bảo hộ tất cả chúng sanh;
• Một tâm đại giác luôn sản sanh sự thông cảm và khoan dung;
• Một tâm hồn giải thoát luôn mong muốn dẹp tan những chướng ngại cho người khác;
• Một tâm hồn bao la vô tận như hư không;
• Một tâm hồn thanh tịnh luôn hành xử theo trí tuệ và công đức của quá khứ, hiện tại và vị lai…

Còn về nguyên lý Vô Ngại của không gian, nó cũng có thể được biểu thị chứng minh theo lối này… (khi nói điều đó, ngài lấy ra một quả cầu bằng pha lê từ trong tay áo và đặt nó trong lòng bàn tay của mình). Tâu bệ hạ giờ thì chúng ta thấy tất cả những tấm gương và những phản chiếu của chúng bên trong quả cầu nhỏ xíu này. Ở đây chúng ta có một điển hình về việc cái nhỏ bao hàm cái lớn cũng như cái lớn bao hàm cái nhỏ. Đây là một biểu thị chứng minh về sự vô ngại của những “kích cỡ” hay không gian.

Còn về tính Vô ngại của thời gian, quá khứ đi vào tương lai và tương lai đi vào quá khứ không thể trình bày được trong biểu thị chứng minh này, bởi vì xét cho cùng thì đây là một điển hình tĩnh thiếu hẳn tính năng động của những yếu tố thuộc về thời gian. Một biểu thị chứng minh tính vô ngại của thời gian, và của thời gian cùng không gian, thực ra thì rất khó để sắp đặt bằng những phương tiện thông thường. Ta phải đạt đến một trình độ khác mới có thể chứng kiến được một “biểu thị chứng minh” như thế. Nhưng dù sao, tâu bệ hạ, tôi hy vọng rằng sự biểu thị chứng minh đơn giản này đã đáp ứng được mục đích của nó là làm hài lòng bệ hạ.

NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA TÍNH VIÊN DUNG
Ở điểm này thì có vài nghi vấn nên được đặt ra: Những nguyên nhân của Pháp giới tương dung hỗ nhập này là gì? Ai có thể thực chứng được nó? Bằng cách nào và tại sao cảnh giới Viên Dung này có thể hiện chứng được? Trừng Quán (738-839), Đại Sư Hoa Nghiêm Tông lừng danh, đã đưa ra mười lý do cho câu trả lời này. Trong tác phẩm nổi tiếng của ngài, Hoa Nghiêm huyền tán, chúng ta đọc thấy:
Hỏi: Những nguyên nhân cho phép tất cả các pháp tương dung hỗ nhập hoàn toàn theo một thể cách như thế là gì?
Trả lời: Những lý do thì rất nhiều, thật khó mà luận giải chúng hết thảy được, nhưng mười lý do trong cả thảy chúng có thể được đưa ra đây một cách khái quát:
1. Bởi vì tất cả pháp (hay sự vật) đều chỉ là những biểu hiện của tâm.
2. Bởi vì không có pháp nào có một thể tính xác định.
3. Bởi vì tất cả pháp đều là những nguyên nhân tương quan liên hệ với nhau.
4. Bởi vì Pháp tánh tự nó vốn hoàn toàn tự do, tự tại và hoàn toàn chan hòa hợp nhất.
5. Bởi vì tất cả pháp đều giống như những ảo ảnh và những giấc mơ.

VÔ NGẠI – ĐIỂM THEN CHỐT CỦA TÍNH VIÊN DUNG
Trích: GIÁO PHÁP VIÊN DUNG VÔ NGẠI – TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO HOA NGHIÊM TÔNG – GARMA C.C CHANG
Dịch: Thanh Lương (Thích Thiện Sáng)

Post: Trì Minh Đồng Hiển

SHARE: