Xuất Hiện: Tương Tự Thứ Tám

Xuất Hiện: Tương Tự Thứ Tám

Chư Phật trong trí huệ của các ngài đã nói

rằng mọi kinh nghiệm giống như những xuất hiện, những hiện hình.

Một lần nữa, hãy nghe sự soi sáng của tôi với chân lý này.

 

Trong không gian của tịnh quang, khuôn mặt bổn nguyên của chúng ta,

từ niềm tin vô minh vào chất thể, linh hồn hay tự ngã,

những xuất hiện như huyễn của sanh tử đột hiện.

Giống như sự xuất hiện phong phú, vắng mặt nhưng biểu lộ,

chúng ta cảm thấy chúng khác nhau như lạc thú hay đau đớn.

 

Sáu loại chúng sanh và môi trường của họ

được biểu lộ qua khuynh hướng do nghiệp,

nhưng trong sự thanh tịnh của chúng, chúng là những trường của ba thân Phật,

phóng chiếu tự hiện của tịnh quang và tánh giác nguyên sơ.

Như Mạng của Như huyễn Chuyển hóa[1]nói rõ

sự phóng hiện này có hai chiều kích –

tâm bình thường và tánh giác nguyên sơ.

 

Không gian trống không bổn nguyên là quê nhà vũ trụ của chúng ta,

thế nên hiện diện thanh tịnh tịnh hóa nhiễm ô

tánh giác nguyên sơ là ở đây và bây giờ.

Nhưng qua những phóng chiếu tâm thức của ích kỷ mê lầm, vô minh.

sáu loài hiện hữu, vui hay buồn, hiện ra như xuất hiện.

 

Giống như những xuất hiện hiện ra từ chỗ không có gì,

chúng ta biết những xuất hiện như huyễn là thanh tịnh trong sự vắng mặt của chúng;

giống như một xuất hiện sở hữu và điều khiển tâm,

chúng ta biết thế giới và chúng sanh như sự đầy tràn ra của tâm thức;

giống như xuất hiện hiện ra theo tùy hứng của chúng ta,

chúng ta biết mỗi hoàn cảnh làm bằng những nguyên nhân và điều kiện;

giống như xuất hiện mê lầm, vắng mặt nhưng rõ ràng

mọi hoàn cảnh, vắng mặt mà rõ ràng, là mê lầm của tâm thức –

những phóng chiếu tự hiện với năng lực lan tràn –

và bị chúng điều kiện hóa, chúng ta đồng hóa với chúng.

 

Phá vỡ, thói quen vật chất hóa bị bẻ gãy,

chúng ta để cho chúng như chúng là, và không phóng chiếu gì

chúng ta an trụ trong bản tánh của nền tảng hiện thể,

nơi, bản tánh của tâm là không gian trống không không thời gian.

 

Ba và năm độc phát sanh từ những dựng lập tâm thức

nhưng khi thẩm xét thì không chất thể nào được tìm thấy;

cảm xúc, như xuất hiện, hoàn toàn không chất thể,

thế nên chúng ta để mặc nó như sự sáng tạo trống không.

 

Mọi chúng sanh của toàn vũ trụ

mỗi đều khác nhau về thân, tâm, xung lực và cảm nhận,

đều giống như xuất hiện, vắng mặt nhưng hiển lộ.

Chúng đều không sanh, không diệt, không chuyển động,

không buộc không thoát,

không chuyển hóa không thay đổi,

nhưng chúng là hình tướng phong phú.

Chúng ta nhận biết chúng, bởi thế, như chỉ là xuất hiện.

 

Những phóng chiếu mê lầm của tâm với mọi khổ đau của chúng,

tất cả ở trong không gian của xuất hiện;

trong sự vắng mặt chất thể của chúng, chúng không thể đông đặc,

thế nên chúng ta nhận biết chúng là những nói dối trống không, bất nhị.

 

Những hiện tượng hợp từ năm nguyên tố –

ba cõi và chúng sanh –

mọi sự, khẳng định hay phủ nhận, đều là tâm xuất hiện;

chúng ta nhận biết tâm này, vắng mặt nhưng hiển lộ,

như xuất hiện huyễn hóa, nguyên sơ và thanh tịnh.

 

Mọi sự có vẻ thật đối với những em bé,

nhưng những hiện tượng do trí năng chế tạo và những thuộc tính của chúng,

tất cả bắt nguồn từ khuynh hướng nghiệp, không thể cho là thật;

thoát khỏi nhị nguyên tri giác cụ thể hóa thành ‘cái này’ hay ‘cái kia’,

chúng ta biết tất cả đều là sự mở trống không có biên bờ, không thể diễn tả.

 

Khi chúng ta chỉ định bằng lời một vật như ‘cái này’ hay ‘cái kia’,

lời nói của chúng ta, như những sừng thỏ, là những tên trống không,

chỉ những gán tên tưởng tượng cho cái không hiện hữu:

chúng ta nhận biết mọi sự bây giờ là không gốc rễ và trống không.

 

Cái chỉ được định danh theo khái niệm là không hiện hữu;

đặt tên bởi khuynh hướng nghiệp, nó là vắng mặt nhưng hiển lộ;

và không có một đối tượng thì chủ thể cũng kết thúc

thế nên không có nhị nguyên tri giác:

tất cả đều mở trống, không thể tưởng tượng hay nói năng.

Bởi vì không ai có thể chỉ định chắc chắn, cái ‘đó’ thực sự là gì,

chúng ta gọi nó là xuất hiện, vĩnh viễn không có chất thể hay tinh túy.

 

Ngay trong khoảnh khắc xuất hiện, một xuất hiện là trống không,

thế nên mọi hoàn cảnh đều trống không, không thực;

cũng như một xuất hiện siêu vượt những ý niệm của hiện hữu,

thế nên bản tánh của mọi sanh khởi vượt khỏi bất kỳ tư tưởng nào về nó.

‘Bề ngoài’, ‘trống không’, ‘thật’, ‘giả’,

dù chúng ta có gán tên cho nó, sự gán tên không phải là nó;

buông bỏ‘cái này’ hay ‘cái kia’

hãy nhìn vào sự mở trống bao la của nó.

 

Khi không có bám luyến ám ảnh,

bất cứ cái gì sanh khởi, đó là một toàn thể.

Thế nên tại sao thèm muốn những lời vô nghĩa?

Nếu chúng ta tin nó là ‘cái này’ hơn là ‘cái kia’

thì trạng thái tự nhiên của hiện thể chúng ta bị giảm bớt.

 

Cái gì có thể được phát hiện bởi một mạng lưới của những quan niệm tư biện?

Những đặt tên của tâm là những tạo dựng tâm thức của chúng ta

và dù nếu tánh Không tối hậu có thể được gợi ra,

chúng ta được để cho chỉ với niềm tin vào trạng thái tự nhiên của hiện thể.

 

Cái gì có thể được biết bởi bất kỳ sự chỉ ra nào,

khi điểm cốt lõi nằm khỏi sự chỉ và cái được chỉ?

Và sự tranh luận cãi cọ là tư biện vô ích,

và bản tánh của tâm vẫn không được biết.

 

Như sự đồng bộ mạnh mẽ, tuy nhiên,

sự ban phước của Lama, đi vào trong trái tim chúng ta,

chiếu sáng như mặt trời linh thiêng mọc trong bầu trời không mây,

và trong khoảnh khắc ấy thực tại chân thật được phát hiện.

 

Bây giờ tất cả là không gian nhất thể, không chướng ngại bởi ‘là’ hay ‘không là’,

giống như bầu trời bao la, không ranh giới, sự trống không trong suốt của nó;

bây giờ, không cố ý mọi hoàn cảnh được chứng ngộ là xuất hiện,

hình tướng – ánh sáng trống không trong không gian bao la.

 

Bất cứ cái gì là sanh tử – trong khoảnh khắc không thời gian này – là niết bàn,

mọi khái niệm mê lầm được chứng ngộ là bản tánh của tâm;

tánh giác nguyên sơ vô ngã nhảy nhót trong trường không gian của nó,

niềm tin vào những hình tướng vật chất bây giờ vô hiệu,

chúng ta hạnh phúc trong không gian xuất hiện của những phóng chiếu của tâm,

 

Với nhận biết này, Hiện Thể Tánh Giác thấy chân lý

và không có cái gì còn lại để phát hiện, ngay bây giờ, ngay tại đây,

bản tánh của tâm tự xuất hiện tức thời.

 

Nhưng nó không mở ra chỉ với người quý trọng

khả năng thần lực của ban phước của guru.

Màu sắc và hình tướng là một ngọn đèn cháy bừng cho những người có thể thấy,

nhưng với người mù bẩm sinh thì chỉ những lời không phát lộ cái gì;

người nào bị mù thì bằng lời chữ, không thể hiểu,

người ấy không thể thấy mặt trời sáng rỡ của bản tánh của tâm.

 

Nhưng mù hơn người mù là những người ngu học giả,

dài dòng như những con vẹt, phồng lên với tự phụ,

nghĩa tâm yếu bị che tối bởi mạng lưới những khái niệm của họ,

trong vô minh họ như người mù trong một thế giới màu sắc.

Không biết, họ tin vào chân lý của những ý tưởng của họ!

Than ôi! Buồn thay, những người kém may mắn nhất ấy! Ngoan cố biết bao!

Nghĩa tâm yếu luôn luôn trốn thoát họ.

 

Ở đây, bản tánh của tâm, bản thân tánh giác nguyên sơ không sợ hãi,

nhờ guru phát hiện, là sự hiện diện vốn sẳn của chúng ta.

Nó mọc lên khi tâm an định, không nhiễm ô, không do tạo tác,

trong sự vắng mặt của bám luyến ám ảnh vào những hy vọng và sợ hãi,

nhưng tốt nhất nó được biết là sáng tỏ trống không vô biên.

Tuy nhiên người nào có sự ban phước của dòng,

và bị guru chân thật[2] bắt giữ, người ấy được ban phước tối cao nhất.

 

Thiền định

Để có quen thuộc không lệch với trạng thái tự nhiên của hiện thể,

như trước, sự chuẩn bị là guru – yoga.

Và nguyện vọng trau dồi kinh nghiệm là xuất hiện.

Thực hành chính là củng cố sự tin chắc bằng kinh nghiệm rằng tâm giống như xuất hiện,

và bản tánh của những hình tướng trong tâm cũng giống như xuất hiện.

Hãy để nó như vậy trong bản tánh của tâm không chút gì lay động.

 

Bây giờ ở yên trong sáng tỏ trống không thoát khỏi thêm thắt của tâm thức,

an trụ trong không gian ấy, không có nhị nguyên tri giác lừa dối,

tịnh quang sanh khởi như xuất hiện trong sáng.

Nó là những hình tướng – ánh sáng không kết tinh, không vết dơ do những niềm tin tạo tác,

nó lung linh với một hạnh phúc tự nhiên không dứt.

Tâm như bầu trời, sự sáng tỏ của nó không do quan niệm,

được biết là bầu trời tâm không tạo dựng, không thêm thắt.

Trong lúc này mọi hoàn cảnh hiện ra như xuất hiện,

những nội dung của tâm giải thoát trong xuất hiện,

thích và ghét, hy vọng và lo sợ, cái tôi, đều giống như xuất hiện,

điểm bắt đầu, tiến trình và quả được giải thoát.

 

Ở đây những thành kiến và những tưởng tượng không trói buộc chúng ta nữa:

dù chăm chú vào hiện hữu, mọi cảm thức về thường tan biến;

dù chăm chú vào không có gì, chủ nghĩa hư vô đoạn kiến của chúng ta bốc hơi;

dù quán tưởng nhị nguyên chúng ta an trụ trong không gian bất nhị;

dù tưởng tượng một cái tôi, một linh hồn, một Ngã, chúng ta tự do đối với niềm tin;

bị điều kiện hóa tin vào một ‘cái khác’ xa lạ, giờ đây không có hy vọng hay lo sợ;

trau dồi giai đoạn sáng tạo, có thành tựu tự nhiên;

trau dồi giai đoạn thành tựu, giai đoạn sáng tạo là xuất hiện, hiện hình.

 

Trong sự sanh khởi và vỡ tan đồng thời của nó, cảm xúc được giải thoát;

vượt khỏi niềm tin chủ quan, chúng ta ở trong cái đích thực.

Trong luân xa của thực tại, tính nhất thời là không thời gian,

và giống như những bóng ma chúng ta thản nhiên không dính dáng đến đổ vỡ và biến đổi.

 

Người điên linh thánh, không mục đích, không nắm giữ, trong suốt,

trong sự tự phát vô ngại của y không có giả vờ, không có những hy vọng hay sợ hãi;

bất cứ cái gì xuất hiện là không gian nhất thể không động cơ,

năng lực Phật của tự phát như bầu trời trùm khắp.

 

Trong đó, ngày và đêm ở trong không gian xuất hiện,

tất cả những cao cả của chúng ta là một trong luân xa của lạc thú thanh tịnh;

tất cả những cái nhìn thấy ở trong luân xa của hưởng thụ thị giác;

mỗi kinh nghiệm của chúng ta bao bọc trong luân xa của thực tại;

những phóng chiếu huyễn thuật của chúng ta không thể tính đếm trong luân xa của lưu xuất;

và hạnh phúc của chúng ta được duy trì trong luân xa của giữ gìn.

 

Năng lượng tâm thức, thô nặng, không được tập hợp, được rút gọn thành những yếu tố căn bản –

căn bản cấu trúc của nó là hệ thống những kinh mạch năng lượng,

cái cần tịnh hóa là những luân xa tương ứng

và nhân tố của tịnh hóa là năng lượng thanh tịnh;

sự thanh tịnh hiện thực là một vị của tánh giác nguyên sơ.

 

Trong giấc mộng, sự lưu xuất của chúng ta chuyển hóa trong những cõi Phật

và sau đó những giấc mộng lạc lối không xảy ra.

Ở trong tịnh quang ngày và đêm

trong samadhi của sáng tỏ và lạc phúc vô niệm,

thiên nhãn, những thần lực tâm linh, những khả năng huyễn thuật

và tự phát đáp ứng hoàn hảo được hoàn thành.

Bây giờ những kinh nghiệm và chứng ngộ

cho lợi lạc của chính mình và người khác được thành tựu.

Tất cả những người may mắn chúng ta cần không ngừng

tự làm quen với mọi sự như là xuất hiện!

[1] Một bản văn Dzogchen

[2] Guru chân thật là bản tánh của tâm.

Điều hướng nội dung<< Thành Càn Thát Bà: Tương Tự Thứ BảyNhững Đoạn Kết Luận >>
Chia sẻ bài viết này trên trang cá nhân của bạn:
  •  
  •  


Để lại một phản hồi

Địa chỉ email của bạn sẽ không hiển thị công khai.


*