THANH TỊNH HUỆ

Thanh Tịnh Huệ là cái huệ thanh tịnh. Đó là trí Bát nhã soi sáng các địa vị tu chứng từ chúng sanh cho đến Phật. Đây là con đường đoạn trừ sự chướng và lý chướng. Tùy theo hai chướng đoạn được đến đâu mà có các mức độ sáng tỏ khác nhau trên con đường thành Phật.
Người tu hành nhờ cái huệ thanh tịnh này theo lời chỉ dạy của Đức Phật để biết chỗ đang đi của mình trên con đường giác ngộ. Đã vượt qua được bao nhiêu, đang ở đâu và còn bao xa nữa. Nếu không có thánh giáo khai ngộ và thứ lớp thể nhập này, người tu hành chúng ta dễ lầm lẫn, chủ quan, đánh giá sai và do đó tự làm cho mình chậm chạp.

 

Kinh: Bồ tát Thanh Tịnh Huệ thưa hỏi các cấp bậc tu chứng

Bấy giờ Bồ tát Thanh Tịnh Huệ ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu quanh bên phải ba vòng, quỳ thẳng chấp tay mà bạch Phật rằng:
Thế Tôn đại bi, Ngài đã rộng nói cho chúng con sự thể không thể nghĩ bàn, chưa từng thấy chưa từng nghe như thế, chúng con nay đây nhờ Phật khéo léo chỉ dạy, thân tâm an nhiên thư thái, được lợi ích lớn.
Xin Phật vì tất cả chúng đến nghe pháp trong hội này tuyên nói lại tánh Giác viên mãn của Pháp vương, chỗ chứng đắc của chúng sanh, chư Bồ tát và chư Phật khác nhau như thế nào, để cho chúng sanh đời sau rốt sau nghe thánh giáo này tùy thuận khai ngộ, thứ lớp thể nhập.
Nói xong năm vóc làm lễ sát đất. Cầu thỉnh như vậy lập lại ba lần.

 

Lược Giảng:

Thanh Tịnh Huệ là cái huệ thanh tịnh. Đó là trí Bát nhã soi sáng các địa vị tu chứng từ chúng sanh cho đến Phật. Đây là con đường đoạn trừ sự chướng và lý chướng. Tùy theo hai chướng đoạn được đến đâu mà có các mức độ sáng tỏ khác nhau trên con đường thành Phật.
Người tu hành nhờ cái huệ thanh tịnh này theo lời chỉ dạy của Đức Phật để biết chỗ đang đi của mình trên con đường giác ngộ. Đã vượt qua được bao nhiêu, đang ở đâu và còn bao xa nữa. Nếu không có thánh giáo khai ngộ và thứ lớp thể nhập này, người tu hành chúng ta dễ lầm lẫn, chủ quan, đánh giá sai và do đó tự làm cho mình chậm chạp.
Huệ thanh tịnh không chỉ để soi rõ các địa vị trước sau, mà còn chính là vị chủ soái thống lĩnh mọi công cuộc tu hành, soi phá vô minh sự chướng và lý chướng. Sự chướng và lý chướng được thanh tịnh đến đâu thì sáng tỏ đến đó, thấy được sâu rộng tánh Viên Giác đến đó.
Suốt cả con đường đều y vào trí Bát nhã (và Đại bi), vậy trí Bát nhã hay Huệ thanh tịnh ấy là gì? Trí huệ là cái biết tất cả đều như huyễn, hai chướng đều như huyễn cho nên giải thoát được hai cái ngăn che ấy. Chương Văn Thù nói: “Nhân địa tu hành Viên Giác của Như Lai là: biết đó là hoa đốm”. Biết là hoa đốm tức là Thanh Tịnh Huệ vậy.

 

Kinh: Đức Phật khen ngợi

Bấy giờ Thế Tôn bảo cùng Bồ tát Thanh Tịnh Huệ:
Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông có thể vì chúng sanh đời rốt sau mà thưa hỏi Như Lai về thứ lớp sai biệt. Nay các ông lắng nghe, ta sẽ nói rõ.
Khi ấy, Bồ tát Thanh Tịnh Huệ hoan hỷ vâng lời dạy, cùng cả đại chúng yên lặng lắng nghe.

 

Lược Giảng:

Các thứ lớp sai biệt là do hai thứ chấp ngã, chấp pháp nhiều ít mà lập ra. Tu hành chỉ là trừ chấp ngã và chấp pháp. Ngã_pháp còn gọi là tâm_cảnh. Ngã pháp, tâm cảnh diệt đến đâu thì tánh Viên Giác hiện ra đến đó. Như bụi che chướng hết đến đâu thì gương hiện ra đến đó, toàn khắp viên mãn, vì thật ra chỗ nào cũng là gương.
Nhưng từ nền tảng, ngã pháp là vô tự tánh, như huyễn, là tánh Không. Nếu triệt suốt điều này, ắt là không có thứ lớp sai biệt.

 

Kinh: Trong tánh Viên Giác vốn không có các cấp bậc tu chứng sai biệt.

Thiện nam tử! Tự tánh Viên Giác không có tánh mà có tất cả tánh, tùy thuận tất cả từ tánh khởi mà không thủ không chứng. Ở trong thật tướng, thật sự không có Bồ tát và chúng sanh. Vì sao thế? Vì Bồ tát, chúng sanh đều là huyễn hóa. Huyễn hóa diệt mất thì không có thủ, không có chứng. Ví như con mắt thấy tất cả mà không tự thấy mình. Tánh vốn tự bình đẳng như vậy mà không có cái gì để gọi là bình đẳng.
Chúng sanh mê lầm điên đảo, chưa có thể trừ diệt tất cả huyễn hóa. Ở nơi vọng tưởng công dụng trừ diệt, có tướng huyễn hóa đã diệt và chưa diệt bèn thấy có thứ lớp chứng đắc sai khác. Nếu được tùy thuận tịch diệt của Như Lai thì thật không có sự tịch diệt và người tịch diệt.

 

Lược Giảng:

Viên Giác không có tánh, tức là Chân Không; mà có tất cả tánh, là Diệu Hữu. Tánh Viên Giác xưa nay không một pháp, chỉ tùy thuận theo duyên mà biến hiện ra tất cả các pháp từ tánh khởi như hoa đốm mà thật chẳng từng biến hiện. Thế nên gọi là không thủ, không chứng, vì không hề nhiễm ô.

Tánh Viên Giác vốn không có một hình tướng nào, chỉ tùy theo nghiệp thức của các loại chúng sanh mà hiện ra các tướng. Các tướng đó tuy có nhưng là như huyễn, gương tuy có tướng như huyễn mà gương không hiện tướng, vì gương vốn không ô nhiễm. Tướng tuy dường như có sanh mà cả tướng và gương đều thật vô sanh.
Ở trong thật tướng Viên Giác, không có gì ngoài Viên Giác, tướng nào cũng là tánh, bóng nào cũng là gương. Trong tánh “bình đẳng suốt ba thời, viên mãn khắp mười phương” này, Bồ tát và chúng sanh chỉ là giả danh phân biệt, như hoa đốm, vì Bồ tát và chúng sanh đều là tánh Viên Giác. Trong tánh Viên Giác, Bồ tát và chúng sanh chưa từng sanh, nên cũng chưa từng diệt. Như thế gọi là Đại Tịch Diệt, Đại Niết bàn.
Tánh Viên Giác vốn tự bình đẳng, Không, Vô tướng, Vô tác. Thế nên khi huyễn hóa diệt mất thì tâm chúng ta hoàn nguyên lại tánh Viên Giác: không có riêng tướng nào để thủ, để chứng. Ví như con mắt thấy tất cả mà tự nó không có tướng nào, không có một chỗ trụ nào, nên nó không tự thấy nó. Tự thấy nó thì vẫn còn phân hai chủ thể và đối tượng. Trong tánh Viên Giác hoàn toàn bình đẳng một vị, vốn không có tướng nào để có thể nói cái gì bình đẳng với cái gì.
Do mê lầm điên đảo phân biệt mà có cả thảy hoa đốm, mới khởi lên cái vọng tưởng công dụng trừ diệt, vọng tưởng về cái đã diệt và cái chưa diệt. Do có vọng tưởng trừ diệt được nhiều ít ấy mà vọng thấy có thứ lớp để chứng đắc sai khác. Nhưng khi cả thảy đã là hoa đốm thì cái công dụng trừ diệt hoa đốm cũng là hoa đốm, cho nên các địa vị từ phàm phu đến Phật cũng chỉ là hoa đốm. Trong sự thực rốt ráo, thì tất cả các địa vị sai khác do nhiều hay ít hoa đốm cũng chỉ là hoa đốm: vì trong tánh Viên Giác đại giải thoát, đại tịch diệt, chưa từng có hoa đốm, chưa từng có sự tịch diệt do diệt trừ hoa đốm, chưa từng có thân tâm hoa đốm nào để được sự tịch diệt.

 

Kinh: Phàm phu tùy thuận tánh Viên Giác

Thiện nam tử! Hết thảy chúng sanh từ vô thủy đến nay do vọng tưởng ra cái ta và yêu cái ta, chẳng hề tự biết niệm niệm sanh diệt nên khởi ra yêu ghét đam mê năm dục.
Nếu thiện hữu tri thức chỉ dạy khiến khai ngộ tánh Viên Giác thanh tịnh, phát minh sự khởi diệt, bèn biết đời này tánh tự nhọc mệt lo buồn.
Lại nếu có người đoạn trừ lâu dài nhọc mệt lo buồn, bèn hiểu được pháp giới thanh tịnh, nhưng còn cái hiểu thanh tịnh kia tự làm chướng ngại nên đối với tánh Viên Giác chẳng được tự tại. Đó gọi là phàm phu tùy thuận tánh Viên Giác.

 

Lược Giảng:

Hết thảy chúng sanh từ vô thủy đến nay phát sanh vọng tưởng cái ta và yêu cái ta, chạy theo những vọng tưởng ấy nên có sự tương tục của sanh tử luân hồi khổ đau. Không biết rằng ngã và đối tượng của ngã là pháp thì niệm niệm sanh diệt, nên cho chúng là tương tục, có thật. Ngã và pháp niệm niệm sanh diệt, cho đó là thường là thật, nghĩa là cho hoa đốm là thật. Từ đó mà có yêu ghét, đam mê năm dục.
Đuổi theo hoa đốm thì vô ích và nhọc mệt. Tưởng rằng có thể nắm được hoa đốm nhưng sự thật thì ngược lại cho nên sanh ra lo buồn.
Nếu gặp được thiện hữu tri thức chỉ dạy khiến khai ngộ, cảm nhận được tánh Viên Giác xưa nay thường trụ và nhìn lại cuộc đời mới dần dần thấy ra sự niệm niệm sanh diệt của nó bèn tin tưởng mà phát tâm cầu đạo. Lúc ấy mới bắt đầu tin là có Tam Bảo: Phật là bậc đã giải thoát khỏi mệt nhọc lo buồn và cứu giúp chúng sanh khỏi mệt nhọc lo buồn. Pháp là những con đường, những phương pháp để vượt thoát khỏi đại dương nhọc mệt và lo buồn này. Tăng là những người đang đi trên con đường ấy, là những vị giữ gìn Pháp và sẵn sàng truyền đạt cho bất cứ ai.
Nhọc mệt và lo buồn tức là cuộc đời này, một khi đã tạm thời lắng xuống một thời gian dài, bấy giờ người ta hiểu và bắt đầu nếm được sự thanh tịnh của tâm mình, của thế giới xung quanh. Nhưng cái hiểu ấy mới chỉ ở cấp độ ý thức, mà ý thức là kẻ sanh ra hoa đốm và cuộc rượt đuổi hoa đốm nhọc mệt và lo buồn, cho nên cái hiểu của ý thức không giải quyết được tận gốc của vấn đề. Y như người xưa nói: Kẻ trộm lại đi bắt ăn trộm, lấy bùn rửa bùn, lấy đá đè cỏ…
Tóm lại là cái thấy tánh Viên Giác còn mập mờ, cái thấy về cuộc đời niệm niệm sanh diệt như hoa đốm còn cạn, khi thoáng thấy khi không thấy, nên chỉ nằm trong Mười Tín chứ chưa trọn vẹn Mười Tín.
Theo Bồ tát Mã Minh trong luận Đại Thừa Khởi Tín, thì thành tựu Mười Tín là phát được ba tâm:
*Trực tâm: tâm trực niệm pháp Chân Như hay tánh Viên Giác.
*Thâm tâm: tâm thích tích tập tất cả các việc thiện.
*Đại bi tâm: tâm muốn trừ khổ cho tất cả chúng sanh.
Con đường Bồ tát bắt đầu từ chánh tín phát tâm như vậy. Phát tâm tức là phát tâm Bồ đề, tức là Bồ đề tâm nguyện, rồi thực hành Bồ đề tâm hạnh, cho đến khi Giác Ngộ, viên mãn Trí huệ và Đại bi. Con đường Mười Tín, khởi đầu của Tư Lương vị (gồm Mười Tín, Mười Trụ, Mười Hạnh, và Mười Hồi Hướng) là sự tích tập Trí huệ (trực niệm Chân Như hay tánh Viên Giác) và sự tích tập Công đức (tích tập tất cả các thiện hạnh và khởi tâm Đại bi).

 

Kinh: Tam Hiền tùy thuận tánh Viên Giác

Thiện nam tử! Tất cả các Bồ tát thấy rằng hiểu là chướng ngại, tuy đoạn trừ được chướng ngại của hiểu, nhưng vẫn còn trụ nơi thấy giác, bị cái chướng ngại ‘giác’ làm chướng ngại nên không tự tại. Những vị này gọi là Bồ tát chưa nhập địa tùy thuận tánh Giác.

 

Lược Giảng:

Bồ tát chưa vào Sơ địa của Mười Địa gọi là Bồ tát chưa nhập địa. Gồm các địa sau Mười Tín là Mười Trụ, Mười Hạnh, Mười Hồi Hướng và Bốn Gia Hạnh vị.
Các Bồ tát này thấy rằng cái hiểu phân biệt của thức là chướng ngại, vì vẫn còn phân chia, cách biệt giữa chủ thể hiểu và đối tượng được hiểu. Thế nên tìm cách vượt lên khỏi chướng ngại này bằng thiền định (Mười Trụ), hạnh (Mười Hạnh) và hồi hướng (Mười Hồi Hướng).
Nhưng chưa thực sự vào tánh Giác, cho nên Giác vẫn còn là một đối tượng, do đó mà gọi là “vẫn còn trụ nơi thấy giác”, chưa lọt được vào chỗ chủ thể giác và đối tượng được giác đều Không, vì thế mà chưa có thể vào được căn bản trí vô phân biệt hay là Pháp thân, tức tánh Viên Giác.
Bậc Tam Hiền chưa ra khỏi thức, chưa qua đến bờ bên kia của trí Bát nhã nên chưa có thể chuyển thức thành trí. Trước mắt hình như còn có vật, chưa xa lìa được tướng, chưa thể biết được Pháp thân không chỗ trụ, Không, Vô tướng và Vô nguyện, chỉ vì còn bị chướng ngại bởi chủ thể giác và đối tượng giác.
Muốn dứt được chướng ngại này mà thực sự bước vào trong tánh Giác, phải nỗ lực mãnh liệt, đó là Bốn Gia Hạnh: Noãn địa, Đảnh địa, Nhẫn địa, và Thế đệ nhất địa. Bứt phá qua những chướng ngại chót này, người ta vào được Pháp thân, thấy được Pháp thân: Kiến đạo vị hay Thông đạt vị. Bồ tát thấy được từng phần Pháp thân được gọi là Tùy phần giác.
Từ đây người ta thực sự có Nền tảng của sự tu hành, tức là tánh Viên Giác. Có Con đường khởi từ Nền tảng này và đi trong Nền tảng này, đây là Tu tập vị. Và cuối cùng đến Quả, cũng chính là Nền tảng đã được khai phá trọn vẹn. Đó là Cứu cánh vị.

 

Kinh: Mười Địa tùy thuận tánh Viên Giác

Thiện nam tử! Có chiếu có giác đều gọi là chướng ngại. Thế nên Bồ tát thường giác mà chẳng trụ, năng chiếu và sở chiếu đồng thời tịch diệt. Thí như có người tự chặt đầu mình, đầu đã đứt rồi thì không có người chặt. Lấy cái tâm chướng ngại tự diệt các chướng ngại thì cũng như thế, chướng ngại đã diệt bèn không có người diệt chướng ngại.
Kinh giáo như ngón tay chỉ mặt trăng, nếu thấy mặt trăng thì rõ biết ngón tay chỉ hoàn toàn không phải là mặt trăng. Tất cả lời dạy của Như Lai khai thị cho các Bồ tát cũng là như vậy. Đây gọi là Bồ tát đã nhập địa tùy thuận tánh Giác.

 

Lược Giảng:

Có chiếu có giác là còn bị ràng buộc trong chủ thể và đối tượng, trong ngã và pháp, trong tôi tu và cái tôi đang tu. Bồ tát chưa vào địa còn bị tướng làm ngăn ngại, có tướng người chiếu người giác và cái được chiếu được giác.
Bằng nỗ lực của Bốn Gia hạnh vị và sự tích tập công đức và trí huệ ở trước, đột nhiên hành giả vượt qua tấm lưới sanh tử ngăn che và ràng buộc, nhảy vào tự do và an lạc. Lần đầu tiên lọt vào Pháp thân, lần đầu tiên thấy thực tại, sanh ra vui mừng khôn xiết, thế nên, địa đầu tiên của Mười Địa được kinh điển nói là Hoan Hỷ địa.

Bồ tát vào địa thì thật sự ở trong tánh Giác, không còn bị hình tướng làm ngăn ngại. Ở đây đương thể không tịch, năng chiếu và sở chiếu đồng thời dứt bặt, độc chỉ một tánh Giác vô tướng thanh tịnh soi chiếu bình đẳng khắp mười phương. Đến đây mới biết tánh Giác xưa nay thanh tịnh như hư không chẳng động trùm khắp ba đời, trong đó chưa từng có hoa đốm ta, người, chúng sanh, thế giới. Đến đây mới thành tựu, dù chỉ là bước đầu, công phu tu huyễn trước kia: Niết bàn sanh tử chỉ là giấc mộng đêm qua.
Bồ tát vào địa thì như người tự chặt đầu mình, đầu đã rụng thì người chặt cũng không có. Mới biết xưa nay chưa từng có đầu, lấy đâu để đi đứng nằm ngồi, lấy đâu để nghĩ suy về ngã pháp, về sanh tử phải vượt thoát, về Niết bàn phải chứng đắc, về tu hay không tu.
Lúc ấy mới biết là ngôn ngữ kinh điển bấy lâu mò mẫm tu theo chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng, không phải là mặt trăng, chỉ là những dấu hiệu về thực tại chứ chẳng phải là thực tại. Chính khi trực tiếp thấy thực tại mới biết những ngôn ngữ văn tự ấy nói cái gì. Lúc ấy mới thực sự biết đọc kinh, chứ không phải là đọc chữ, đọc ý. Người ta trực tiếp tương ưng với thực tại không qua ngôn ngữ khái niệm. Bồ tát vào địa thể nhập tánh Giác, chứng Pháp thân theo từng phần nên gọi là Pháp thân Bồ tát hay là Tùy phần giác. Bồ tát đã ở trong tánh Giác nên “thường giác” nhưng không còn năng giác, sở giác nên gọi là “chẳng trụ”. Sở dĩ gọi là thường giác vì đây là cái giác thường hằng của tánh Viên Giác. Bồ tát đã vượt khỏi thức để vào trong Trí. Trí này được gọi bằng nhiều tên: Trí Bát nhã, căn bản trí, vô phân biệt trí, đại viên cảnh trí, tự nhiên trí, vô sư trí…. Tất cả đều để chỉ tánh Viên Giác mà mỗi kinh có một danh từ để chỉ nó: Pháp thân, Như Lai tạng, Niết bàn thường lạc ngã tịnh, Phật tánh, tánh Không, Chân Như, Trung đạo đệ nhất nghĩa đế….
Bước vào Mười Địa dù là địa thứ nhất hay đốn ngộ ở một địa cao hơn, Bồ tát đã thực sự có Địa, hay là Nền tảng, từ đó có Con đường thiết lập trên Nền tảng để đi đến Quả giác ngộ. Bồ tát vào địa là người thấy Tánh, từ đây niệm niệm thấy Tánh, thuận tánh tu hành các ba la mật, các hạnh Bồ tát, đại từ đại bi, mười lực, mười tám pháp bất cọng, bốn vô sở úy để đến quả Phật.
Khi thấy tánh Giác, thấy tất cả đều là tánh Giác, cho nên tất cả đều là phương tiện đồng thời là cứu cánh, vị ấy tiến nhanh trên con đường Phật đạo, vì ở trong không gian nào, thời gian nào, hoàn cảnh nào cũng tu hành được, cũng tương ưng với tánh Giác được. Thấy tánh Giác, sống trong tánh Giác, ‘xứng tánh làm Phật sự’, cho đến khi ‘tất cả đều là Giác’.
Khi thấy ra tấm gương như hư không bình đẳng trùm khắp ba thời, phàm thánh trời người thuần tịnh trong một gương sáng trong thanh tịnh, khi thấy ra bản tánh của mọi sự đồng một tánh vàng, vị ấy miên mật khéo léo tu hành để tất cả bóng là gương, tất cả sự vật thánh phàm đồng một tánh vàng không hở sót. Đâu cũng là gương, cái gì cũng là vàng, đây là sự diệu tu của Bồ tát sau khi thấy tánh, sau khi đốn ngộ vào các cấp bậc của Mười Địa.
Nhờ hạnh Bồ tát ‘Tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh’, hạnh ấy được làm trong chính Pháp thân tánh Giác, vị Bồ tát ấy có đủ tất cả công đức của Pháp thân, Báo thân và Hóa thân.

 

Kinh: Như Lai tùy thuận tánh Viên Giác

Thiện nam tử! Tất cả chướng ngại tức là cứu cánh giác, chánh niệm mất niệm không gì chẳng phải là giải thoát; thành pháp phá pháp đều là Niết bàn; trí huệ ngu si cùng là Bát nhã; chỗ thành tựu của Bồ tát hay ngoại đạo đồng là Bồ đề; vô minh Chân Như không khác cảnh giới; giới định huệ cùng dâm nộ si thảy là phạm hạnh; chúng sanh quốc độ đồng một pháp tánh; địa ngục thiên cung đều là Tịnh độ; hữu tình vô tình đều thành Phật đạo; hết thảy phiền não là giải thoát rốt ráo. Biển huệ pháp giới chiếu suốt các tướng cũng như hư không. Đây gọi là Như Lai tùy thuận tánh Giác.

 

Lược Giảng:

Trong Mười Địa, lên đến địa thứ tám, tức là Bất Động địa, hay Vô công dụng địa, chứng Vô sanh pháp nhẫn, hết mọi công dụng tu hành, tâm tâm tịch diệt, không có tướng thân tâm, giống như hư không, hoàn toàn diệt mất chủng tử ngã chấp. Từ địa thứ tám lên đến địa thứ mười là Pháp Vân địa, hoàn toàn đoạn hết câu sanh pháp chấp, như Kinh Lăng Nghiêm nói, “Bóng Từ mây Diệu trùm biển Niết bàn, gọi là Pháp Vân địa”. Pháp Vân địa thành tựu hoàn toàn chuyển thức thành trí, tùy thuận tịch diệt của Như Lai, thể dụng đầy khắp pháp giới. Nói một cách khác, trọn vẹn ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân.
Qua khỏi Mười địa là địa vị Như Lai, hoàn toàn ở trong Kim cương định, thành tựu trọn vẹn tánh Viên Giác, bao gồm cả chúng sanh, quốc độ, hữu tình, vô tình “đồng thành Phật đạo”. Kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã nói: “Đến ngôi giải thoát, Một tướng Không tướng, không sanh không diệt, đồng với Chân tế, bình đẳng với Pháp tánh, đầy đủ tạng công đức, trụ vị Như Lai”.
Ở đây, kinh Viên Giác nói về sự tùy thuận hay tương ưng hoàn toàn, hay hợp nhất, với tánh Giác của một vị Phật, dĩ nhiên theo mức độ hiểu tầm thường của chúng ta:
Một khi đã hết sạch vi tế vô minh do chấp ngã và chấp pháp, nghĩa là ngã pháp hoàn toàn huyễn, bấy giờ toàn thể pháp giới đồng là vàng, tánh là vàng mà tướng cũng là vàng. Lúc ấy không còn gì là chánh niệm hay mất niệm, trí huệ hay ngu si, vô minh hay Chân Như, thánh và phàm, hữu tình hay vô tình… vì tất cả đều là Chân Tâm thường trụ, không gì chẳng phải là cứu cánh giác. Như một sóng là tất cả đại dương, một bóng là tất cả mặt gương bình đẳng rỗng suốt như hư không. Một khi đạt đến bản tánh Không của tâm, thì những gì lưu xuất từ Tâm Không đó đều là giải thoát: chánh niệm hay mất niệm đều tự giải thoát trong tánh Không vốn tự giải thoát. Trong Viên Giác, trong Phật, tất cả các pháp đều là Phật pháp, không có thuận nghịch, thành pháp phá pháp, hữu tình vô tình…. Một khi trí Bát nhã toàn khắp thì trí huệ và ngu si đều là giả danh, vì tất cả tánh tướng đều là Bát nhã, vô minh và Chân Như chỉ là lời nói chơi, vì tất cả tánh tướng xưa nay vốn đã là Phật.
Tất cả tướng xưa nay chưa từng lìa ngoài tánh, thế nên toàn tướng tức tánh, bổn lai thanh tịnh, không đến không đi, không trụ không tán, không lấy không bỏ, không sanh không diệt. Mỗi một tướng là tất cả tánh, mỗi một bóng là tất cả mặt gương, mỗi một bọt sóng là tất cả đại dương, tất cả đều viên mãn, dung thông, không cách hở mảy may: tất cả chỉ toàn là tánh Giác.
Đây là biển huệ pháp giới trong suốt chỉ toàn là tánh, chỉ toàn là Đại quang minh tạng, tất cả bổn lai thành Phật.

 

Kinh: Tu hành tùy thuận tánh Giác

Thiện nam tử! Các Bồ tát và chúng sanh đời rốt sau chỉ trong mọi thời không khởi vọng niệm, với các vọng tâm cũng chẳng dừng diệt, ở cảnh vọng tưởng chẳng gia thêm hiểu biết phân biệt, nơi chỗ không hiểu biết chẳng phân biện chân thật. Các chúng sanh ấy nghe pháp môn này tin hiểu thọ trì, không sanh kinh sợ, đây gọi là tùy thuận tánh Giác.
Thiện nam tử! Các ông nên biết, những chúng sanh như thế đã từng cúng dường trăm ngàn vạn ức hằng hà sa chư Phật cùng các đại Bồ tát và trồng nhiều gốc đức. Phật nói người ấy sẽ thành tựu Nhất thiết chủng trí.

 

Lược Giảng:

Không khởi vọng niệm, vọng tâm có khởi lên cũng chẳng dừng diệt, ở cảnh huyễn chẳng gia thêm phân biệt của thức, chỗ không hiểu biết chẳng khởi niệm phân biện, đây là pháp tu thấy giản dị mà trực tiếp của Phật giáo có ở hệ Pali, hệ Sanskrit, ở Thiền và Đại Toàn Thiện.
Kinh Phật tự thuyết Udana, đức Phật khai ngộ cho Bahiya, vị này đắc quả A La Hán sau khi nghe thuyết giảng:
“Này Bahiya, ông cần phải học tập như sau: Khi thấy chỉ là cái thấy, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Khi nghe chỉ là cái nghe, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Khi thọ, tưởng chỉ là cái thọ, tưởng…. Do vậy, này Bahiya, không có ông trong liên hệ với cái đó, không có ông ở đâu cả. Do đó, ông không là đời này, không là đời chặng giữa, không là đời sau. Như vậy là đoạn hết khổ đau”.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Khi thấy mà có tướng thấy, đó không phải là cái thấy chân thật. Khi thấy mà lìa tướng thấy, đó là tánh thấy siêu việt”.
Ở đây, chúng ta lược giảng sự tu hành tùy thuận tánh Viên Giác theo đoạn kinh này.
“Chỉ trong mọi thời không khởi vọng niệm”: không có vọng niệm tức thì tương ưng hay tùy thuận tánh giác, bởi vì tánh Giác vốn là vô niệm, không có tư tưởng, và không một tư tưởng nào có thể nhiễm ô nó được. Tu hành là an trụ trong tánh Giác này.
“Với các vọng tâm cũng chẳng dừng diệt”: khi vọng niệm khởi, không cần dừng diệt nó, chỉ chánh niệm tỉnh giác nó, nó sẽ tự tiêu tan trong chánh niệm tỉnh giác. Bởi vì niệm hay tư tưởng khởi từ tâm vô niệm, nên nó cũng là vô niệm, không có tự tánh. Như sóng khởi lên từ đại dương, hiện hữu trong đại dương và tự tan trong đại dương. Chính khi không làm gì với sóng, để nó tự khởi, tự diệt, người ta thấy được đại dương. Tư tưởng không có tự tánh, nên nó tự giải thoát. Thấy được sự tự khởi và tự giải thoát của tư tưởng, người ta thấy ngay tâm vô niệm.
Hơn nữa, nói như Đại Toàn Thiện và Thiền, những tư tưởng là năng lực biểu hiện của Pháp thân, như những tia sáng bảy màu là năng lực biểu hiện của quả cầu pha lê. Những tướng và tưởng là cái dụng được biểu hiện như huyễn của tâm thể Viên Giác vô niệm. Thể nghiệm được điều này thì ngay nơi sự sanh trụ dị diệt của tướng và tưởng người ta chứng ngộ tâm vô niệm. Ngay nơi sự hóa hiện của đủ thứ sắc màu, người ta thấy được quả cầu pha lê tự tâm.
“Ở cảnh vọng tưởng chẳng gia thêm hiểu biết phân biệt”: cảnh và tâm, tuy là cái dụng của tâm vô niệm nhưng là huyễn, vô tự tánh. Nơi cảnh vọng tưởng huyễn hóa ấy mà gia thêm hiểu biết phân biệt thì giống như tự đắp cho mình thêm một lớp màn huyễn, càng thêm ngăn che với cái “chẳng phải huyễn”.
Chính khi không gia thêm hiểu biết phân biệt, nghĩa là không gia thêm cái huyễn, người ta sẽ thấy tâm vô niệm chẳng phải huyễn và trò chơi, trò phô diễn của nó là tâm cảnh huyễn. Sở dĩ gọi là trò chơi, trò phô diễn vì đó là sự biểu hiện của cái vô tự tánh thành cái vô tự tánh.
“Nơi chỗ không hiểu biết chẳng phân biện chân thật”: nơi chỗ không hiểu biết chính là tâm vô niệm. Khởi lên phân biện là bỏ sự an trụ nơi tâm vô niệm mà chạy theo vọng tưởng huyễn hóa. Như trong giấc mộng, càng phân biện chân thật càng kéo dài thêm giấc mộng. Không phân biện thì giấc mộng liền chấm dứt.
Tâm vô niệm chính là tánh Giác, với bốn đoạn trên, với bốn cách tùy thuận, tương ưng với tâm vô niệm ấy, chúng ta thấy rằng suốt ngày suốt đêm chúng ta đều ở trong Nền tảng là tánh Giác vô niệm và Con đường là các niệm hay tâm cảnh huyễn. Do đó chúng ta có thể tu hành suốt ngày đêm. Đó là tu hành chân chánh.
Khi biết được tánh Giác vốn vô niệm nên vốn tự giải thoát và chứng biết các tướng và tưởng chỉ là sự hóa hiện như huyễn, người ta dùng sự hóa hiện như huyễn ấy để ở trong thế giới như huyễn, làm những việc như huyễn để độ chúng sanh như huyễn.
Người tu hành tùy thuận trực tiếp tánh Giác như vậy là người có công đức lớn: đã từng cúng dường vô số chư Phật, chư Đại Bồ tát và trồng nhiều cội công đức. Kinh nói tu hành như vậy sẽ thành Phật, thành tựu Nhất thiết chủng trí của Phật

 

Kinh: Bài kệ trùng tuyên

Bấy giờ Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này nên nói kệ rằng:
Thanh Tịnh Huệ nên biết
Tánh Bồ đề viên mãn
Không thủ cũng không chứng
Không Bồ tát chúng sanh.
Giác cùng khi chưa giác
Thứ lớp có khác biệt:
Chúng sanh bị hiểu ngại,
Bồ tát chưa lìa giác,
Vào địa hằng tịch diệt,
Chẳng trụ tất cả tướng
Đại Giác tròn viên mãn
Gọi là tùy thuận khắp.
Các chúng sanh đời sau
Tâm chẳng nhiễm hư vọng
Phật nói người như thế
Đời này là Bồ tát
Cúng dường vô số Phật
Công đức đã viên mãn
Tuy có nhiều phương tiện
Đều gọi Trí tùy thuận.

 

Lược Giảng:

Tánh Giác thuần ròng là Giác, chưa từng có ngã pháp nên không thủ cũng không chứng. Ở trong chỗ dứt bặt, dù là tạm thời, ngã và pháp này, thì đó là tánh giác. Bồ tát, chúng sanh, luân hồi, giải thoát…. Chỉ là danh tự hoa đốm, cũng như hư không, cho dù con mắt nhặm nào thấy có hoa đốm thì hư không không vì thế mà bị chia cắt, phân mảnh, không vì thế mà chia thành chỗ có hư không và chỗ không có hư không. Tánh Giác thì vô trụ, không giữ riêng Giác ở một chỗ nào, không thành tựu Giác riêng một thời nào, không thời nào không từng Giác.
Thế nên, tánh Giác được gọi là Viên Giác hay Đại Toàn Thiện, Đại Viên Mãn là vì vậy. Nó không thủ, không chứng. Không thủ vì vốn không có ngã, không chứng vì vốn không có pháp. Có thủ có chứng là cái ảo tưởng huyễn hóa do có ngã có pháp của chúng sanh.
Cũng do cái ảo tưởng có ngã có pháp mà trong tánh Giác vốn không thủ không chứng lại có thứ lớp khác biệt. Phàm phu thì bị cái hiểu tri thức ngăn ngại, lăng xăng phân biệt, phân biện trên đám hoa đốm do chính thức vọng thấy, vọng nhận. Bậc Tam Hiền bị cái giác làm ngăn ngại, ngã pháp đã nhẹ hơn, nhưng vẫn còn ngã pháp ở dạng thô nên vẫn còn chủ thể giác và đối tượng được giác.
Phải bứt vượt qua được ngã pháp là cái tạo ra sanh tử hoa đốm này, mới thực sự vào được tánh Giác, vào được các Địa của Pháp thân, thường giác. Từ đây mới an trụ được trong tánh Giác vô niệm, mà thấy các tư tưởng, tâm cảnh thật sự là huyễn. Như vậy mà tùy thuận, tu hành tiến lên tới bậc Phật là Đại Giác, toàn vẹn tánh Giác không gì chẳng tùy thuận vì không có gì chẳng như huyễn.
Trong đời sau, bất kỳ chúng sanh nào tâm chẳng sanh vọng niệm, thường an trụ trong Chân tâm vô niệm, ở trong chân tâm vô niệm này cũng chẳng dừng diệt các niệm vì có niệm nào sanh ra thì cũng là vô niệm, ở trong chân tâm vô niệm này không tạo thêm hiểu biết phân biệt và phân biện huyễn hóa, thì đây là trực tiếp tùy thuận, trực tiếp tương ưng với tánh Giác. Đức Phật ấn chứng cho người thường không chỗ trụ ấy được căn bản trí bình đẳng vô phân biệt và sẽ thành tựu Nhất thiết chủng trí.

 

KINH VIÊN GIÁC LƯỢC GIẢNG
Đại Phương Quảng Viên Giác Liễu Nghĩa Kinh
Đời Đường, nước Kế Tần, Sa Môn Phật Đà Đa La dịch
ĐƯƠNG ĐẠO
THIỆN TRI THỨC 2015

Chia sẻ bài viết này trên trang cá nhân của bạn:
  •  
  •  


Để lại một phản hồi

Địa chỉ email của bạn sẽ không hiển thị công khai.


*