PHẨM SÁM HỐI

THỨ SÁU

Khi Đại sư thấy người dân và quan chức ở Quảng châu, Thiều châu và bốn phương tụ tập trong núi để nghe pháp bèn lên tòa giảng mà bảo chúng rằng:

Hãy đến đây, các thiện tri thức! Sự này phải từ trong tự tánh khởi ra. Trong tất cả thời gian, niệm niệm tự tịnh tâm mình, tự tu tự hành, thấy Pháp thân chính mình, thấy tâm Phật của mình, tự độ tự giới, mới được chẳng uổng công đến đây.

 

Sám hối là để trừ nghiệp chướng, là những nghiệp che chướng bản tánh vốn thanh tịnh của mình. Nghiệp chướng ấy chung quy là tướng và tưởng. Sám hối là tịnh hóa những lỗi lầm, những nghiệp chướng và không làm lại những hành động tác hại ấy nữa. ‘‘Niệm niệm tự tịnh tâm mình’’, nghĩa là niệm niệm lìa tướng, đó là sám hối. Niệm niệm lìa tướng, đây là chân sám hối, đây là thấy tánh.

Lục Tổ nói, ‘‘sự này phải từ trong tự tánh mà khởi’’, đây là y trên tánh mà khởi tu, khởi ra việc sám hối, chứ không phải bằng những hình tướng từ ngoài vào. Sở dĩ như vậy vì Pháp thân chính mình, tâm Phật của mình vẫn có sẳn ở đây lúc này từ vô thủy đến vô chung. Y trên tự tánh Pháp thân, tự tánh tâm Phật mà loại bỏ nghiệp chướng thì sẽ có lúc thấy trực tiếp Pháp thân chính mình, tâm Phật của mình.

Sám hối chân thật là y trên Nền tảng Pháp thân hay tâm Phật của mình. Con đường sám hối đi trên Nền tảng ấy và Quả là sự thanh tịnh vốn sẳn của Pháp thân. Do đó trong lúc sám hối niệm niệm tự tịnh tâm mình, bất kỳ lúc nào chúng ta cũng có thể bắt gặp, thấy được Pháp thân tâm Phật của mình.

Khi thấy rõ Chân lý thứ nhất, Khổ đế, chúng ta lần lần thấy sự tích tập những nguyên nhân tạo ra khổ (Chân lý về sự tích tập nguyên nhân của khổ, Tập khổ đế). Đạo đế là phương tiện hay con đường tháo mở những tích tập của khổ, và Diệt đế là trạng thái diệt mất những phiền não khổ đau, gọi là Niết bàn.

Sám hối là không tích tập những nguyên nhân của khổ, không tự trói buộc mình, không làm hại mình và tháo mở những nguyên nhân thắt buộc đã lỡ tạo. Có điều sự sám hối của Lục Tổ dạy là công việc này phải y trên tánh tự định tự huệ mà làm. Như thế tức là ‘‘Chỉ chánh, không ba chướng’’ (Phẩm Bát nhã), ‘‘Chuyển lỗi, trí huệ ắt sanh’’ (Phẩm Quyết nghi).

‘‘Thấy Pháp thân chính mình, thấy tâm Phật của mình, tự độ tự giới’’, thấy tánh rồi mới tự độ tự giới trong từng niệm niệm, như vậy mới thật sám hối và mau sạch tội.

 

Các người đã từ phương xa đến hội họp ở đây, ấy là điều cùng có duyên. Nay mỗi mỗi nên quỳ xuống, trước ta truyền Năm phần hương pháp thân của tự tánh mình, rồi sau trao pháp Vô tướng sám hối.

Cả đại chúng đồng quỳ.

Sư nói: Một là Giới hương, tức là trong tâm mình không sai quấy, không xấu ác, không ghen tỵ, không tham sân, không cướp hại. Ấy gọi là giới hương.

Hai là Định hương, tức là thấy các cảnh tướng thiện ác mà tâm mình chẳng loạn. Ấy gọi là định hương.

Ba là Huệ hương, tâm mình không bị ngăn ngại. Thường dùng trí huệ quán chiếu tự tánh, chẳng tạo ra các xấu ác. Tuy tu các điều thiện lành mà tâm không bám níu, kính người trên nghĩ đến người dưới, thương xót những kẻ côi cút nghèo cùng. Ấy gọi là Huệ hương.

Bốn là Giải thoát hương, tức là tâm mình không chỗ vịn níu, chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, tự tại vô ngại. Ấy gọi là giải thoát hương.

Năm là Giải thoát tri kiến hương, tâm mình đã không chỗ vịn níu theo thiện ác mà cũng không chìm đắm trong cái không, giữ lấy cái vắng lặng. Cần học rộng nghe nhiều, rõ bản tâm mình, thông đạt cái thật của chư Phật, hòa quang tiếp vật, không ta không người, thẳng đến Giác ngộ, chân tánh chẳng dời đổi. Ấy gọi là giải thoát tri kiến hương.

Những hương này mỗi mỗi đều tự xông ở trong, chớ hướng bên ngoài tìm kiếm.

 

Năm phần hương pháp thân này vốn có sẳn nơi tự tánh mình, chỉ cần bớt các che chướng liền xông bay ra. Năm phần hương pháp thân này là hương của tự tâm thanh tịnh. Tự tâm thanh tịnh không có các độc nhiễm ô thì hương thanh tịnh bay ra.

Trong quá trình sống làm chúng sanh, tạo ra sanh tử người ta củng cố một cái ta và cái của ta, từ đó có các độc tham, sân, si, ghen tỵ, kiêu căng…. Ở mức độ vi tế là tâm có chỗ vịn níu theo những hư vọng bên ngoài hoặc chìm đắm trong cái không vắng lặng. Tất cả những phạm giới, những bệnh của tâm như vậy đi ngược với Pháp và che lấp Pháp hay Pháp thân của mình. Giải tan những lỗi lầm ấy thì tâm vô niệm, vô tướng, vô trụ xưa nay sẽ hiển lộ vì nó chưa từng lìa khỏi cuộc đời sanh tử chúng ta một ly, một khoảnh khắc nào.

Trong phần Huệ hương, Lục Tổ dạy chúng ta Trí huệ bao giờ cũng đi liền với Từ bi. Tánh Không đi liền với Từ Bi, đây là điều cốt yếu của Đại thừa. Như vậy, năm phần hương Pháp thân là hương của trí huệ và từ bi có sẳn trong tâm

Để thấy tánh hay Pháp thân, chỉ đừng tự che lấp tự tánh mình thì tất cả công đức hương Pháp thân xông bay ra, biến cuộc đời sanh tử thành Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, biến thân thể bốn đại và các bất tịnh tham, sân, si, ghen tỵ, kiêu căng thành hương xông khắp pháp giới, cúng dường chư Phật:

Nguyện mây diệu hương này

Đầy khắp mười phương cõi

Cúng dường tất cả Phật

Tôn Pháp, chư Bồ tát

Vô biên chúng Thanh Văn

Và tất cả thánh hiền

Duyên khởi đài quang minh

Xứng tánh làm Phật sự.

Bây giờ ta truyền cho các ông pháp Vô tướng sám hối, diệt tội ba đời, khiến ba nghiệp thân, khẩu, ý được thanh tịnh.

Thiện tri thức! Hãy đồng một lượt nói theo ta:

Các đệ tử, từ niệm trước, niệm nay đến niệm sau, niệm niệm chẳng bị ngu mê nhiễm. Bao nhiêu nghiệp xấu ngu mê các tội đã khởi từ trước thảy đều sám hối, nguyện nhất thời tiêu diệt, vĩnh viễn chẳng khởi lại.

 

Tội nghiệp xấu ác là do ngu mê. Ngu mê là không có cái ta mà cho là có ta, không có đối tượng sự vật, con người, thế giới mà cho là có pháp. Vô ngã vô pháp là không ngu mê. Từ sự ngu mê hay vô minh này sanh ra tất cả nghiệp tội.

Có một niệm về ta bèn có một niệm về pháp. Có một niệm về pháp bèn có ngay một niệm về ta. Không có niệm về ta, về pháp thì niệm niệm ở trong tự tánh vô ngã vô pháp.

Ngã và pháp là mảnh đất cho các hạt giống nghiệp nảy nở và lớn lên. Mảnh đất ngã và pháp tiêu tan thì các tội nghiệp nhất thời tiêu diệt, vĩnh viễn chẳng khởi trở lại.

‘‘Từ niệm trước, niệm nay đến niệm sau, niệm niệm chẳng bị ngu mê nhiễm’’, niệm niệm như vậy là niệm niệm ở trong tự tánh.

 

Các đệ tử, từ niệm trước, niệm nay đến niệm sau, niệm niệm chẳng bị kiêu căng dối lừa nhiễm. Bao nhiêu nghiệp xấu kiêu căng dối lừa các tội đã khởi từ trước thảy đều sám hối, nguyện nhất thời tiêu diệt, vĩnh viễn chẳng khởi lại.

Các đệ tử, từ niệm trước, niệm nay đến niệm sau, niệm niệm chẳng bị ghen ghét nhiễm. Bao nhiêu nghiệp xấu ghen ghét các tội đã khởi từ trước thảy đều sám hối, nguyện nhất thời tiêu diệt, vĩnh viễn chẳng khởi lại.

Thiện tri thức! Những lời trên là Vô tướng sám hối.

Sao gọi là sám? Sao gọi là hối? Sám là ăn năn chừa bỏ lỗi trước của mình. Bao nhiêu nghiệp xấu ngu mê, kiêu căng dối lừa, ghen ghét các tội đã khởi từ trước thảy đều ăn năn chừa bỏ vĩnh viễn chẳng khởi lại, ấy gọi là sám.

Hối là ăn năn lỗi sau, từ nay trở về sau bao nhiêu nghiệp xấu ngu mê, kiêu căng dối lừa, ghen ghét các tội, nay đã hiểu ngộ, thảy đều vĩnh viễn dứt sạch, chẳng làm hại nữa, ấy gọi là hối. Cho nên gọi là sám hối.

Người phàm phu ngu mê chỉ biết sám tội trước mà chẳng biết hối lỗi sau. Do chẳng hối nên tội trước chẳng diệt, lỗi sau lại sanh. Tội trước đã chẳng diệt lỗi sau lại sanh thì sao gọi là sám hối?

 

Các tội lỗi kiêu căng dối lừa, ghen ghét nhiễm nơi tâm, che lấp tự tánh. Các tội đã khởi từ trước đều ăn năn chừa bỏ, các lỗi về sau vĩnh viễn chẳng làm lại, chẳng cho khởi lại, làm được như thế, đó là tâm vô niệm. Sám hối trên chính tâm vô niệm, đó gọi là sám hối vô tướng. Sám hối tới đâu, tội lỗi tiêu tan đến đâu, chẳng sanh trở lại đến đâu thì tự tâm hay tự tánh vô niệm, vô tướng, vô trụ hiện bày đến đó.

‘‘Từ niệm trước, niệm nay đến niệm sau, niệm niệm…’’, đây là sám hối trong từng niệm niệm, và như vậy trong từng niệm niệm tương ưng với tự tánh, với trực tâm vốn thanh tịnh.

Sám hối là sám hối niệm, sám hối tướng, và sám hối trụ. Ba cái lỗi này mà hết, thì đây là Vô niệm, Vô tướng, Vô trụ, đây là tự tánh thanh tịnh khắp cả.

 

Thiện tri thức! Đã sám hối rồi, nay các thiện tri thức hãy phát Bốn thệ nguyện rộng lớn, mỗi người phải dùng tâm nghe cho rõ:

Tự tâm chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.

Tự tâm phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.

Tự tánh pháp môn vô lượng thệ nguyện học.

Tự tánh Phật đạo vô lượng thệ nguyện thành.

Đây là bốn thệ nguyện rộng lớn của Đại thừa. Lục Tổ dạy rằng bốn thệ nguyện rộng lớn ấy khởi từ tự tâm tự tánh, đi trong tự tâm tự tánh và viên mãn trong tự tâm tự tánh.

Ở đây chúng ta thấy rõ tự tâm và tự tánh. Tự tâm là tự tánh, nhưng khi nói đến mặt nhiễm ô thì nói tự tâm: Tự tâm chúng sanh, tự tâm phiền não. Còn khi nói đến mặt không thể bị ô nhiễm thì nói tự tánh: Tự tánh pháp môn, tự tánh Phật đạo.

Ngay nơi tự tâm tự tánh mà sám hối mà phát nguyện thì luôn luôn ở trong tự tâm tự tánh.

 

Thiện tri thức! Các ông há chẳng nói: ‘Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’, nói như vậy là chẳng phải Huệ Năng này độ.

Thiện tri thức! Chúng sanh trong tâm nghĩa là tâm tà mê, tâm dối giả, tâm bất thiện, tâm ghen tỵ, tâm ác độc, những tâm như vậy thảy là chúng sanh.

Mỗi người phải dùng tánh mình mà độ lấy mình, ấy gọi là chân độ.

Sao gọi là tánh mình độ mình? Tức là các thứ chúng sanh trong tâm là tà kiến, phiền não, ngu si thì lấy chánh kiến mà độ. Đã có chánh kiến thì dùng trí Bát nhã đánh phá các chúng sanh ngu si, mê vọng. Mỗi mỗi tự độ mình, ngu đến thì chánh độ, mê đến thì ngộ độ, ngu đến thì trí độ, ác đến thì thiện độ. Độ như vậy thì gọi là chân độ.

 

Chúng sanh trong tâm là các độc, các bệnh trong tâm. Và chúng sanh ngoài tâm cũng là do các độc, các bệnh trong tâm phóng chiếu ra. Thực ra, chúng sanh trong tâm và chúng sanh ngoài tâm đều vô sanh. Cho nên chỉ giải quyết chúng sanh trong tâm thì chúng sanh ngoài tâm là không có, là Không-Như.

Các thứ chúng sanh trong tâm như tà kiến, phiền não, ghen tỵ, ác độc…. thì lấy chánh kiến, tức là cái thấy tánh, cũng là trí Bát nhã mà độ. Cái thấy tánh độ hết các tướng, chính các tướng gây ra các bệnh trong tâm. Cái thấy tánh là thấy cái Vô tướng, chính cái vô tướng này độ hết thảy các tướng chúng sanh, phiền não.

Khi đã có chánh kiến, đã biết tánh, biết trí huệ là gì thì dùng nó để độ. Độ là đưa tướng trở lại tánh, dùng trí huệ soi phá tướng, để tướng thành ánh sáng trí huệ, mỗi mỗi tự độ mình. Niệm niệm an trụ trong tánh, trong trí huệ để các tướng trở lại thật tướng của chúng là tánh, là trí huệ. Đó là chân thật tu, chân thật độ.

Chúng sanh vô biên là các tướng chúng sanh thì vô biên, vô số. Tức thời nhiếp các tướng ấy vào trong tánh, bèn tức thời độ hết chúng sanh trong ngoài. Khi ấy tự tâm sạch hết các tướng, không còn tâm nhiễm ô thì không còn chúng sanh và thế giới, không còn có sự tu, sự độ. Khi đã sống hoàn toàn trong tánh Không thì phiền não vô biên của chúng sanh cũng là Không, nên vì đại bi với chúng sanh mà độ họ, nhưng thật ra không có độ.

 

Lại ‘phiền não vô tận thệ nguyện đoạn’ là đem trí Bát nhã tự tánh trừ dứt tâm tư tưởng hư vọng.

 

Phiền não và chúng sanh là một vì đều do tâm ô nhiễm tạo ra. Thế nên phải đem trí Bát nhã tự tánh mà độ, mà đoạn. Có thể độ, có thể đoạn vì chúng không có thật tánh, tạm thời có, tạm thời che lấp. Dùng trí Bát nhã tự tánh quán chiếu chúng là vô tự tánh, chúng liền trở lại tâm Không bổn nhiên.

Thấy các tướng chúng sanh và phiền não là vô tự tánh, thấy các bóng là vô tự tánh nên tất cả các bóng đều là gương, đây là độ, là đoạn.

 

Lại ‘pháp môn vô lượng thệ nguyện học’ là cần thấy tự tánh, thường hành chánh pháp, ấy gọi là chân học.

 

Tự tánh pháp môn vô lượng thệ nguyện học, là tất cả pháp môn đều từ tự tánh khởi ra, ở trong tự tánh và hoàn thành trong tự tánh. Vô lượng pháp môn đều ở trong tự tánh, vô lượng pháp môn đều chính là tự tánh. Học vô lượng pháp môn là học tự tánh.

Khi đã thấy được tự tánh, thì thực hành pháp môn nào cũng là thực hành tự tánh, thực hành chánh pháp. Thực hành tự tánh tức là thực hành đồng thời tất cả các pháp môn, và sự thực hành này, sự học này phải thường, nghĩa là trong từng niệm niệm.

 

Lại ‘vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành’ là đã thường hạ tâm, hành chỗ chân chánh, lìa mê lìa giác, thường sanh Bát nhã, trừ chân trừ vọng, tức thấy Phật tánh, tức là nghe xong thì thành Phật đạo.

Thường niệm tu hành, đó là pháp nguyện lực.

 

Thường hạ tâm là thường ở trong trạng thái vô ngã, vô nhân, không ta không người, hành chỗ chân chánh là hành tự tánh, không lìa khỏi nó, niệm niệm thấy tánh. Càng ngày càng thấy rõ ràng tánh mình là Phật tánh, tức là tâm vô niệm, vô tướng, vô trụ. Càng thấy tánh thì sự chấp ngã chấp pháp càng tiêu, lìa mê là lìa cái mê của ta, lìa giác là lìa cái giác của ta.

Thường sanh Bát nhã là thường không có bốn tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, thường vô ngã vô pháp cho đến hoàn toàn chứng đắc tánh Không. Trừ vọng là trừ chấp ngã chấp pháp, nhưng chân cũng trừ, vì cái chân này là vọng tưởng do cái ta và cái của ta nghĩ ra rồi bám víu vào.

Hoàn toàn trừ sạch tất cả mọi bám tướng tức là thấy hoàn toàn Phật tánh. Hết sạch phiền não chướng thì đây là Niết bàn. Hết sạch sở tri chướng thì đây là Bồ đề hay Giác ngộ.

Bốn thệ nguyện rộng lớn này tức là cửa vào Phật tánh và cũng chính là Phật tánh. Viên mãn bốn thệ nguyện là Phật tánh viên mãn. Cho nên phải ‘‘thường niệm tu hành pháp nguyện lực’’ này. Nguyện lực là sức mạnh của nguyện để thâm nhập Phật tánh. Nguyện lực viên mãn thì trùm khắp tất cả sanh tử và Niết bàn, đây là Chân Không Diệu Hữu viên mãn.

 

Thiện tri thức! Nay đã phát bốn thệ nguyện rộng lớn rồi, ta lại truyền cho thiện tri thức ba giới quy y vô tướng.

Thiện tri thức,ba quy y là: Quy y Giác lưỡng túc tôn, Quy y Chánh ly dục tôn, Quy y Tịnh chúng trung tôn.

Từ nay về sau, hãy xưng Giác làm thầy, chẳng trở lại quy y tà ma ngoại đạo. Hãy lấy tự tánh tam bảo thường tự chứng minh cho mình. Khuyên các thiện tri thức hãy quy y tự tánh Tam Bảo.

Phật là Giác, Pháp là Chánh, Tăng là Tịnh.

Tự tâm quy y Giác, tà mê chẳng sanh, ít dục biết đủ, lìa được tiền của sắc dục, gọi là Lưỡng túc tôn.

Tự tâm quy y Chánh, niệm niệm không có tà kiến, vì không có tà kiến nên không có nhân ngã, cống cao, tham ái, bám chấp, gọi là Ly dục tôn.

Tự tâm quy y Tịnh, hết thảy các cảnh giới trần lao ái dục, tự tánh chẳng nhiễm bám, gọi là Chúng trung tôn.

 

Phật, Pháp, Tăng đều khai thị cho con người cái họ có sẳn, là Phật Pháp Tăng vốn ở nơi tự tánh của mỗi người, cho nên Lục tổ nói là ‘‘tự tánh Tam Bảo’’.

Quy y Giác là xoay lại y dựa vào tự tánh hằng giác của mình. Quy y Chánh là xoay lại dựa vào tự tánh hằng chánh của mình. Quy y Tịnh là xoay lại y dựa vào tự tánh vốn tịnh chưa từng nhiễm ô của mình. Khi quy y như vậy thì các bệnh của tâm đều được ‘‘lìa’’, đều trở nên  ‘‘không có, chẳng sanh’’. Quy y liên tục chính là thiền định, như một dòng sông chảy miết ra hòa với biển. Hợp nhất với tự tánh Tam Bảo là ý nghĩa chữ ‘‘Nam mô’’. Nam mô là hợp nhất. Hợp nhất, là một với Phật, Pháp, Tăng vốn giác, vốn chánh và vốn tịnh.

 

Nếu tu hạnh này, đó là tự quy y (quy y tự tánh mình).

Người phàm phu chẳng rõ, từ ngày đến đêm cứ cho là đã thọ giới ba quy y. Nếu nói quy y Phật thì Phật ở đâu? Nếu không thấy Phật thì quy y chỗ nào? Nói như vậy là hư vọng.

Thiện tri thức! Mỗi người hãy tự quán sát, chớ dụng tâm lầm. Kinh văn nói rõ ràng, tự quy y Phật, quy y Phật nơi mình, chẳng nói quy y Phật ở đâu khác. Phật mình chẳng quy thì không có chỗ nào mà y cả.

Nay đã tự ngộ thì mỗi người phải quy y Tam Bảo nơi tự tâm mình, trong điều hòa tâm tánh, ngoài kính trọng mọi người, đó là tự quy y vậy.

 

Tất cả kinh điển và tông phái Đại thừa đều nói tâm mình là Phật. Cái gần nhất, cái thực nhất, cái thường trực ở ngay nơi mình mà chạy kiếm bên ngoài thì rốt cuộc chỉ tìm thấy tướng.

Quy y tánh là quy y vô niệm, vô tướng, và vô trụ. Hể khởi niệm và chạy theo niệm bèn có ngay tướng, có chỗ trụ. Thế nên phải thấy bản tánh thì mới quy y tự tánh Tam Bảo được.

Khởi niệm liền sai, mà chìm không giữ tịnh cũng không đúng. Biết tự quy y mỗi giây mỗi phút thì đây là Thường Lạc Ngã Tịnh.

 

Thiện tri thức! Đã quy y Tam Bảo chính mình rồi mỗi mỗi hãy chí tâm, ta nói cho nghe tự tánh Phật một thể ba thân, khiến các ông thấy được ba thân, rõ ràng tự ngộ tự tánh.

Tất cả hãy nói theo ta:

Nơi sắc thân mình, quy y Thanh tịnh Pháp thân Phật.

Nơi sắc thân mình, quy y Viên mãn Báo thân Phật.

Nơi sắc thân mình, quy y Ngàn trăm ức Hóa thân Phật.

Thiện tri thức! Sắc thân là nhà trọ, không thể nói quy hướng vào đó được. Phật ba thân ở trong tự tánh mình, người đời đều có. Chỉ vì tự tâm mê chẳng thấy tánh ở trong, mà lại tìm ba thân Như Lai ở ngoài, thành ra chẳng thấy trong thân mình có Phật ba thân. Các ông nghe giảng, khiến các ông trong thân mình thấy tự tánh mình có Phật ba thân. Phật ba thân ấy từ tự tánh mình sanh, chẳng do ở ngoài mà được.

 

Tự tánh là Phật, mà Phật có Ba thân, Pháp thân, Báo thân, Hóa thân, nên tự tánh vốn có ba thân Phật. Nếu mỗi chúng sanh không có sẳn ba thân Phật thì làm sao để ngộ nhập, làm sao có thể thành Phật. Ba thân Phật đều có ngay nơi sắc thân hiện giờ của mình. Như các kinh ví Phật tánh là vàng, vàng không thể làm ra từ thủy tinh, từ đồng, chì, kẽm…. Vàng vốn sẳn là vàng, mà tất cả các pháp môn là để loại trừ những tạp chất lẫn lộn, nấu lọc cho thành vàng ròng mà thôi.

Tu hành là thấy tánh, thấy được mỏ vàng luôn luôn ở trong tâm mình. Muốn thấy tánh thì phải tịnh hóa thân tâm mình bằng các pháp Phật, như trong phẩm Sám hối này Lục tổ dạy cho Năm phần hương Pháp thân, Sám hối, phát Bốn thệ nguyện rộng lớn, thọ giới Ba quy y, thấy Ba thân Phật của tự tánh. Đây là những pháp căn bản để đến lúc nào tâm thức chín muồi và có thêm trợ duyên như một vị thiện tri thức chỉ bày, liền thấy khuôn mặt xưa nay của mình.

Biết được vàng rồi thì từ đó là tiệm tu, như lọc vàng khỏi các tạp chất, nung luyện, nấu đập… cho thành vàng ròng. Tiệm tu là y vào vàng mà làm, y vào tánh mà tịnh hóa, hoặc dùng các pháp ở trên hoặc các pháp khác. Tất cả cùng có một mục đích, một kết quả là tự tánh Pháp thân đã thấy được một phần thì càng ngày càng thấy nhiều hơn, rõ hơn. Một phần phiền não chướng và sở tri chướng được tịnh hóa thì thêm một phần tự tánh Pháp thân hiển lộ.

Qua phẩm Sám hối này và qua toàn bộ cuốn kinh, chúng ta thấy Thiền tông gồm tất cả pháp môn của Phật giáo, như đại dương gồm tất cả mọi dòng sông. Có điều tất cả các pháp môn ấy đều y vào tánh và hướng về tánh để thành tựu viên mãn tự tánh hay Phật tánh. Giới hạn Thiền tông vào một, hai pháp môn hay cho rằng Thiền tông không có pháp môn nào cả là một sai lầm lớn.

Thiền nhằm chứng ngộ thật tướng của tất cả hiện hữu, của tất cả đời sống. Vậy thì có chỗ nào không có thật tướng ấy, và có chỗ nào không là cửa pháp (pháp môn) đưa thẳng vào thực tướng ấy, có chỗ nào không là đạo tràng?

 

Sao gọi là Thanh tịnh Pháp thân Phật? Người đời tánh vốn thanh tịnh. Muôn pháp đều từ tự tánh sanh: nghĩ lường tất cả sự ác tức sanh hạnh ác, nghĩ lường tất cả sự thiện tức sanh hạnh thiện. Như vậy các pháp ở trong tự tánh mình, như trời thường trong, mặt trời mặt trăng thường sáng, nhưng vì mây bay che lấp nên trên sáng dưới tối. Bỗng gặp gió thổi mây tan, trên dưới đều sáng muôn hình tượng đều hiện. Người đời tánh thường phù du, như mây trên trời kia.

 

Tánh mình vốn thanh tịnh như bầu trời, có mây hay không mây bầu trời vẫn như thế. Nhưng với người có mây nhiều thì không thể thấy bầu trời, mây là những ý tưởng phù du, che mất bầu trời.

Các pháp từ tánh mình sanh, ở trong tánh mình và tan biến trong tánh mình. Các pháp ấy là tâm thức, “tâm sanh thì thảy thảy pháp sanh, tâm diệt thì thảy thảy pháp diệt” (Luận Đại thừa khởi tín). Các pháp-ý tưởng ấy như mây che bầu trời tự tánh Pháp thân vốn thanh tịnh. Thấy tánh là thấy bầu trời Thanh tịnh Pháp thân Phật ấy.

Trước khi khởi niệm nghĩ lường, nhìn thẳng vào cái vô niệm ấy thì thấy trực tiếp bầu trời Pháp thân vốn thanh tịnh này. Thấy trực tiếp Pháp thân là bước vào Mười Địa, được gọi là Bồ tát Pháp thân.

Khi thấy được Pháp thân chung của chư Phật rồi, thì mới thấy các pháp-các ý tưởng như những đám mây của bầu trời, chúng sanh từ bầu trời, có mặt trong bầu trời và diệt mất trong bầu trời. Chúng là cái dụng, sự biểu lộ của chính bầu trời Pháp thân, cho nên chúng cũng vốn thanh tịnh, vốn giải thoát như chính bầu trời Pháp thân.

Khi đã an trụ kiên cố trong bầu trời Vô niệm, thì các niệm có khởi cũng là vô niệm, như Lục Tổ nói ở phẩm Định Huệ: “Vô niệm là nơi niệm mà vô niệm”.

Thiện tri thức! Trí như mặt trời, huệ như mặt trăng. Trí huệ thường sáng, do vì ở ngoài bám cảnh nên bị đám mây vọng niệm che khuất tự tánh mà chẳng được sáng tỏ.

Nếu gặp thiện tri thức, nghe được pháp chân chánh, tự trừ mê vọng thì trong ngoài sáng suốt, trong tự tánh mình muôn pháp đều hiện. Người thấy tánh cũng giống như vậy. Đây gọi là Thanh tịnh Pháp thân Phật.

 

Khi đã bớt những đám mây vọng niệm, gặp được thiện tri thức chi thẳng tâm mình là Thanh tịnh Pháp thân Phật, bèn là trong ngoài sáng suốt, trên dưới đều sáng, thấy tất cả pháp đều hiện trong tâm mình, đều chính là tâm mình. Bấy giờ không còn có tướng, vì tướng là do có phân biệt. Đến đây không còn một kẻ hở cho phân biệt tâm cảnh, mình người. Đây gọi là người thấy tánh. Người thấy tánh thì tất cả tướng đều là tánh. Tất cả đều là tánh, không có gì ngoài hay khác với tánh. Tất cả đều một vị tánh.

Đi sâu hơn nữa vào tánh hay Pháp thân, thì vọng niệm cũng là Pháp thân tánh Không, phiền não là Bồ đề. Niệm cũng là vô niệm, tướng cũng tức là vô tướng, trụ tức là vô trụ, sanh tức là vô sanh.

 

Thiện tri thức! Tâm mình quy y tánh mình, đó là quy y chân Phật. Tự quy y là trừ những tâm bất thiện, tâm ghen ghét, tâm cong quẹo, tâm chỉ có ta, tâm giả dối, tâm khinh người, tâm nhạo người, tâm tà kiến, tâm cao ngạo, các hạnh bất thiện ở trong tự tánh, trong tất cả thời gian. Thường tự thấy lỗi mình, chẳng nói sự tốt xấu của người khác, đây là tự quy y. Thường hạ tâm mình, cung kính khắp cả, tức là thấy tánh thông suốt, không còn có gì ngăn ngại, đây là tự quy y.

 

Thấy tánh là thấy Pháp thân. Đây là bước vào dòng thánh, hàng Bồ tát Mười địa, tức là Mười địa Pháp thân. Bây giờ mới thật tu, tu trên nền tảng Pháp thân cho đến khi viên mãn. Các kinh Phật đều nói như thế, và các tông đốn giáo như Dzogchen, Mahanudra cũng nói như thế.

Trên nền tảng Pháp thân này phải trừ bỏ những tâm bất thiện, những lỗi lầm, những tập khí, những “lậu” đã tích tập trong nhiều đời thì Pháp thân mới hoàn toàn thanh tịnh được. Điều này kinh điển gọi là vô lậu, hay Không, Vô tướng và Vô nguyện. Lục Tổ gọi là Vô niệm, Vô tướng và Vô trụ.

Tự quy y là tự giải thoát mình khỏi những lỗi lầm để thực sự quy y, là một với chân Phật. “Thường tự thấy lỗi mình”, Lục Tổ thường dạy như vậy. Thành ra biết cái sai thì tự nhiên ở trong cái đúng (chánh). Và ở trong cái đúng thì biết cái sai.

“Thường tự thấy lỗi mình, chẳng nói sự tốt xấu của người khác” là thường ở trong tự tánh như thường ở trong bầu trời, một cụm mây nhỏ khởi lên liền biết, biết liền tan. Tan thì sự chứng nghiệm bầu trời thêm rộng lớn.

 

Sao gọi là Viên mãn Báo thân? Ví như một ngọn đèn có thể trừ cái tối ngàn năm, một cái trí có thể diệt cái ngu muôn thuở. Chớ nghĩ đến việc trước vì nó đã qua, không thể đắc. Thường nghĩ về sau, niệm niệm tròn sáng tự thấy bản tánh. Thiện ác tuy khác nhau, nhưng bản tánh không hai, tánh không hai gọi là thật tánh. Trong thật tánh chẳng nhiễm thiện ác, đây gọi là Viên mãn Báo thân Phật.

Tánh mình khởi một niệm ác thì diệt nhân thiện muôn kiếp. Tánh mình khởi một niệm thiện thì hằng sa cái ác dứt. Thẳng đến Giác ngộ vô thượng, niệm niệm tự thấy, chẳng mất bổn niệm, gọi là Báo thân.

 

Pháp thân được ví như bầu trời vô biên (Không), Báo thân là ánh sáng của bầu trời (Minh). Bầu trời thì thường sáng, ánh sáng không có ngoài bầu trời. Pháp thân và Báo thân không lìa nhau, chúng là một.

‘‘Trong thật tánh chẳng nhiễm thiện ác’’ thì ánh sáng của Báo thân hiện bày.

Nghĩ thiện nghĩ ác kết quả là khác nhau, nhưng bản tánh chúng không hai, vì: một, chúng là không có tự tánh, không thể đắc nên đồng là tánh Không; hai, chúng đều do tánh mình khởi, nên trong bản chất, chúng là tánh. Như sóng này và sóng kia khác nhau nhưng đồng một thật tánh nước.

Ở nơi niệm mà nhận ra đó là tánh, từ đây mới biết niệm là gì, và do đó tự do với niệm, không còn bị nhiễm ô.

Tánh không hai gọi là thật tánh: khi thấy người, thấy cảnh thì biết chúng là tâm, nên vô tự tánh, như huyễn. Khi nhìn thẳng vào tâm thì tâm trống không bao la là bầu trời Pháp thân tánh Không, không có niệm, không có tướng và không có chỗ trụ.

Liên tục quán sát từ ngày này sang ngày khác sự không hai của tâm và cảnh, của niệm và tâm vô niệm, của bầu trời và ánh sáng, cho đến lúc sự quán sát này thình lình tan biến vào nguồn cội vô sanh của nó, bấy giờ thật tướng hiển bày trước mắt. Thấy biết trực tiếp tánh không hai cũng gọi là thật tánh này được gọi là ngộ, là thấy tánh.

Khi ấy bèn “thẳng đến Giác ngộ vô thượng, niệm niệm tự thấy (thật tánh không hai), chẳng mất bổn niệm (là chẳng mất cái gốc nguồn của niệm, tức tự tâm, tự tánh).

 

Sao gọi là Ngàn Trăm Ức Hóa thân? Nếu chẳng nghĩ muôn pháp thì tánh vốn như hư không. Một niệm nghĩ lường, gọi là biến hóa. Nghĩ lường việc ác thì hóa làm địa ngục, nghĩ lường việc thiện thì hóa làm thiên đường, độc hại hóa làm rồng rắn, từ bi hóa làm Bồ tát, trí huệ hóa làm cõi trên, ngu si hóa làm phương dưới. Tánh mình biến hóa rất nhiều, người mê chẳng thể tỉnh giác, niệm niệm khởi ác, thường hành đường ác. Xoay về một niệm thiện thì trí huệ liền sanh, ấy gọi là Tự tánh Hóa thân Phật.

 

Các niệm, các ý nghĩ là sự biến hóa của tánh mình, đó là những Hóa thân của chính tánh mình, nên gọi là Tự tánh Hóa thân Phật.

Nếu chẳng nghĩ muôn pháp thì tánh vốn như hư không, đây là tâm vô niệm hay tự tánh hay Pháp thân tánh Không. “Tự tánh khởi một niệm thiện ác”, “tánh mình biến hóa rất nhiều”, Lục Tổ không nói trong tự tánh khởi một niệm, trong tánh mình có biến hóa, nghĩa là sự khởi, sự biến hóa là trực tiếp của tự tánh. Hóa thân là sự biến hóa trực tiếp của Pháp thân. Hóa thân là cái dụng của Pháp thân.

Biết các niệm, các cảnh, các tướng và các tưởng là sự sanh khởi, sự biến hóa của Pháp thân, tức là các niệm, các cảnh chính là Pháp thân tánh Không. Vì là sự sanh khởi, sự biến hóa của Pháp thân tánh Không nên chúng cũng là Pháp thân tánh Không, các tướng ấy là vô tự tánh, như huyễn. Các tướng và các tưởng là sự biến hóa của Pháp thân tánh Không nên chúng thanh tịnh như Pháp thân tánh Không. Sự sanh khởi, sự biến hóa như huyễn mà thanh tịnh này là trò chơi của Pháp thân tánh Không. Như muôn ngàn sóng là trò chơi, là sự tự trang nghiêm của đại dương.

Thấy tánh hay thấy Pháp thân thì phải đạt đến điều ấy. Toàn thức là trí, toàn bóng là gương, toàn sóng là nước, toàn phiền não tức Bồ đề Giác ngộ.

Khi thấy niệm tức vô niệm, sanh tức vô sanh, biến hóa tức không biến hóa, Hóa thân tức Pháp thân, lúc ấy mới là thật tu, cho đến rốt ráo, bao trùm cả bốn cảnh giới sống của một con người: khi thức, khi ngủ mộng, khi thiền định và trung ấm sau khi chết.

 

Thiện tri thức! Pháp thân vốn sẳn đủ. Niệm niệm tự tánh tự thấy, tức là Báo thân Phật. Từ Báo thân mà nghĩ lường tức là Hóa thân Phật. Tự ngộ tự tu công đức của tự tánh, đó là chân quy y.

Chớ da thịt là sắc thân, sắc thân là nhà trọ, không thể nói là quy y được. Hể ngộ ba thân của tự tánh tức biết Phật của tự tánh.

Ta có một bài tụng Vô tướng, nếu hay trì tụng thì ngay sau lời nói, có thể khiến các tội mê nhiều nhiều kiếp tiêu diệt hết một lần.

 

Pháp thân vốn sẳn đủ là trước khi khởi niệm đã có pháp thân, ngay lúc đang niệm vẫn có pháp thân, và khi hết niệm cũng có pháp thân. Trước khi sanh ra là pháp thân, sau khi chết đi là pháp thân.

Niệm niệm tự tánh tự thấy, tự biết, không chủ thể đối tượng, đây là Báo thân. Từ Pháp thân và Báo thân vô tướng, vô niệm, vô trụ mà khởi ra các niệm nghĩ lường thì đây là Hóa thân, bản chất cũng Vô tướng, vô niệm, vô trụ. Hóa thân là cái dụng của Pháp thân và Báo thân, nên Hóa thân là Không-Minh. Cả ba thân không lìa nhau, và càng tu thì càng thấy chúng là một.

“Công đức của tự tánh” là công đức của Pháp thân. Công đức của Pháp thân là ánh sáng của Báo thân và các niệm biến hóa tức Hóa thân. Thấy biết các niệm là sự biến hóa của chính Pháp thân thì các niệm càng hiển rõ Pháp thân, đó là “tự ngộ tự tu công đức của tự tánh”.

Có niệm Hóa thân, tức đó là Pháp thân Hóa thân vô niệm. Có tướng Hóa thân, tức đó là Pháp thân Báo thân vô tướng. Có chỗ trụ Hóa thân, tức đó là Pháp thân Báo thân vô trụ.

Ngộ được ba thân của tự tánh như vậy tức là biết Phật của tự tánh.

 

Người mê tu phước, chẳng tu đạo

Chỉ nói tu phước ấy là đạo

Bố thí cúng dường, phước vô biên

Trong tâm ba ác vẫn còn tạo.

Nghĩ dùng tu phước muốn diệt tội

Đời sau được phước, tội vẫn còn

Chỉ hướng trong tâm trừ tội duyên

Đều trong tự tánh chân sám hối.

Bỏ tà làm chánh là không tội

Học đạo là thường quán tự tánh

Tức cùng chư Phật đồng một loại.

Tổ ta chỉ truyền đốn pháp này

Nguyện khắp thấy tánh, đồng một thể

Nếu muốn đi tìm thấy Pháp thân

Lìa các pháp tướng, trong tâm sạch

Nỗ lực tự thấy chớ lơ là

Niệm sau bỗng hết một đời xong

Nếu ngộ Đại thừa được thấy tánh

Chấp tay thành kính chí tâm cầu.

Muốn tu giải thoát, giác ngộ thì không thể tu phước ở ngoài mà phải sám hối trừ sạch tội lỗi trong tâm. Tâm sạch các phiền não chướng và sở tri chướng thì thấy Pháp thân Phật tánh. Không những trừ các tội thô, thấy được, mà còn phải trừ hạt giống của tội, các “tội duyên”, vi tế.

Tâm thanh tịnh là tâm Phật, là Pháp thân. Tâm thanh tịnh, hết tội đến đâu thì tâm Phật, Pháp thân hiện ra đến đó, vì tâm Phật, Pháp thân vốn sẳn đủ, chỉ vì nghiệp chướng che đậy nên không thấy. “Lìa các pháp tướng, trong tâm sạch” bèn là “thấy Pháp thân”.

Trong phẩm Sám hối này, Lục Tổ dạy tất cả các pháp căn bản của Đại thừa: quy y, phát nguyện, sám hối, năm phần hương Pháp thân, ba thân Phật… tất cả đều y trên tự tánh vốn sẳn đủ. Đốn giáo gồm đủ tất cả các pháp căn bản của Đại thừa, chỉ có điều tất cả đều y vào tự tánh vốn có sẳn khắp nơi mọi lúc mà tu hành, do đó thường được nói là “niệm niệm”. Thực hành tất cả pháp, tùy theo thiện căn của mình, nhưng Nền tảng, Con đường và Quả là tự tánh, tất cả không ngoài tự tánh: “Học đạo là thường quán tự tánh”.

 

Sư nói: Thiện tri thức! Cả thảy nên tụng bài kệ này, y đây tu hành thì ngay nơi câu nói được thấy tánh. Dầu có cách ta ngàn dặm thì cũng như thường ở bên ta.

Còn ngay dưới câu nói mà chẳng ngộ thì dầu ở trước mặt ta cũng như xa cách ngàn dặm, cần gì phương xa đến đây. Khá trân trọng và đi an vui.

Đại chúng nghe pháp đều mở mang tỏ sáng, thảy đều hoan hỷ vâng làm.

 

Người tu thật sự thì chỉ một câu kệ, nhớ rồi thực hành trong từng niệm niệm thì có ngày ngộ tâm, thấy tánh. Cho nên vấn đề không phải là gần thầy hay xa thầy, mà là tâm mình có giống thầy hay không, có niệm niệm làm theo lời thầy hay không: “Bỏ tà làm chánh là không tội. Học đạo là thường quán tự tánh. Tức cùng chư Phật đồng một loại”.

Điều hướng nội dung<< PHẨM NGỒI THIỀNPHẦM CƠ DUYÊN >>
Chia sẻ bài viết này trên trang cá nhân của bạn:
  •  
  •  


1 Trackbacks & Pingbacks

  1. PHẦM CƠ DUYÊN | ÁO NÂU

Để lại một phản hồi

Địa chỉ email của bạn sẽ không hiển thị công khai.


*