ĐI VÀO BÀI THƠ MỘC CẬN CỦA NGUYỄN TRÃI

  1. MỤC LỤC
  2. CHẤT LƯỢNG CỦA ĐỜI SỐNG
  3. CON ĐƯỜNG HẠNH PHÚC
  4. CƠ HỘI TẠO DỰNG HẠNH PHÚC
  5. CON NGƯỜI TOÀN DIỆN VÀ TỰ DO
  6. CÁI ĐẸP CỦA CON NGƯỜI
  7. CÁI NHÌN NGƯỜI KHÁC VÀ VẬT KHÁC
  8. CÁI THIỆN VÀ HẠNH PHÚC
  9. CON NGƯỜI TOÀN DIỆN, HẠNH PHÚC TOÀN DIỆN
  10. CA NGỢI HOA SEN
  11. CON NGƯỜI: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ SỰ HOÀN THIỆN
  12. ĐẠO ĐỨC LÀ NỀN TẢNG CHO MỘT XÃ HỘI THỊNH VƯỢNG
  13. GIÁO DỤC PHẬT GIÁO CON ĐƯỜNG CHUYỂN HÓA TOÀN DIỆN
  14. ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN VĂN HÓA PHẬT GIÁO
  15. CON ĐƯỜNG BỒ TÁT VÀ XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
  16. KHO TÀNG LÒNG TỐT
  17. KHÔNG LÀM HẠI
  18. ĐỨC HIẾU
  19. CẢM NGHĨ VỀ TĂNG GIÀ
  20. BÁT NHÃ QUÁN CHIẾU
  21. BÁT NHÃ: CHÁNH KIẾN GIẢI THOÁT
  22. GIỚI THIỆU VỀ KIM CƯƠNG THỪA
  23. EINSTEIN VÀ CON ĐƯỜNG HÀI HÒA CỦA ĐÔNG PHƯƠNG
  24. KHOA HỌC HIỆN ĐẠI VÀ CON ĐƯỜNG PHẬT GIÁO
  25. THỜI GIAN CÓ HAY KHÔNG
  26. ĐI VÀO BÀI THƠ MỘC CẬN CỦA NGUYỄN TRÃI
  27. SỨ MẠNG THI SĨ: NHỚ VÀ TƯỞNG
  28. LINH HỒN HAY YẾU TÍNH THI CA
  29. LỜI CHÀO TINH KHÔI
  30. HOA HỒNG NỞ CHẲNG TẠI SAO: Angelus silesus, Heidegger VÀ MỘT CON ĐƯỜNG ĐÔNG PHƯƠNG
  31. SÁNG TẠO QUA CÁI NHÌN PHẬT GIÁO
  32. THƯỞNG THỨC VÀ SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT
  33. TẢN MẠN VỀ TIẾNG VIỆT
  34. NGHỆ THUẬT VÀ PHẬT GIÁO
  35. LỜI CHÚC ĐẦU NĂM LỢI MÌNH LỢI NGƯỜI
  36. MÙA XUÂN TỪ CẢM NGHĨ ĐẠO PHẬT
  37. PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ VĂN HÓA
  38. SỰ THÀNH ĐẠT
  39. TÂY PHƯƠNG VỚI ĐÔNG PHƯƠNG: ĐỐI THOẠI VÀ CÙNG TIẾN
  40. SỐNG TRONG BỔN NGUYỆN CỦA PHẬT A DI ĐÀ
  41. CON NGƯỜI HÀI HÒA
  42. XÃ HỘI HÀI HÒA
  43. TỰA CÁC ĐẦU SÁCH ĐÃ XUẤT BẢN THIỆN TRI THỨC

25. ĐI VÀO BÀI THƠ MỘC CẬN CỦA NGUYỄN TRÃI

Mộc cận

Ánh nước hoa in một đóa hồng

Vẩn nhơ chẳng bén, Bụt là lòng

Chiều mai nở chiều hôm rụng

Sự lạ cho hạy tuyệt sắc không 

Mộc cận là bông dâm bụt.

Chúng ta thử đi vào sự nhìn thấy một bông dâm bụt của Nguyễn Trãi là như thế nào.

Ánh nước hoa in một đóa hồng

Bông dâm bụt đỏ in hình trên mặt nước. Chúng ta không biết Nguyễn Trãi nhìn ảnh bông in trên mặt nước hay bông thật .Nhưng có thể chắc một điều, lúc đó cảnh vật yên tĩnh và tâm hồn của ông cũng yên tĩnh.

Yên tĩnh là sao ?Là “biển tâm không có sóng”.Không có sóng xao động của một chủ thể tìm cách nắm bắt và một đối tượng cho sự nắm bắt, chiếm hữu.

Đấy là một trạng thái thiền định tự nhiên.Trạng thái thiền định tự nhiên này là “tâm vô sở trụ”, tâm không bám trụ vào đâu cả.

Vẫn nhơ chẳng bén, Bụt là lòng

Không có chút vết nhơ nào nơi bông bụt.Như thế bởi vì không có chút vết nhơ nào nơi tâm. Vết nhơ nơi tâm là ý niệm về một cái tôi (ngã)và ý niệm có một đối tượng để thương ghét, lấy bỏ…Khi không có vết nhơ nào nơi gương tâm thì tâm trọn vẹn là cảnh, cảnh trọn vẹn là tâm. Tâm cảnh hợp nhất thì thấy ra bông bụt.Thấy ra bản chất, thể tánh của bông bụt.

Bông bụt đó bày hiện bản chất của nó, thể tánh của nó, lòng của nó. Bản chất, thể tánh, lòng đó là Bụt (Phật): “Bụt là lòng”. Bụt hay Phật là Chân Như, là Như Lai…Kinh Kim Cương nói: “Thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai”. Bông bụt đó có bản chất, có lòng là Chân Như.Từ Chân Như sanh khởi, diễn tiến trong và chính là Chân Như ,và tiêu tan trong Chân Như.

Không chỉ một bông bụt, mà mọi sự vật , mọi con người, mọi sinh vật đều từ Chân Như sanh khởi, diễn tiến trong Chân Như và chính là Chân Như  rồi tiêu chìm trong Chân Như. Sự khác biệt của mọi vật là do nghiệp riêng của chúng, chứ bản chất chúng vẫn là Chân Như. Như sóng sanh khởi từ đại dương, biến thành một làn sóng di động, có cao thấp có khác hướng thế nào thì vẫn là nước của đại dương, rồi tan chìm trở lại đại dương. Sóng là một biểu hiện của đại dương. Sóng chính là đại dương biểu hiện.

Như thế, toàn bộ đời sống, có hay không, thêm hay bớt, khởi hay chìm. Sanh hay diệt, chỉ là Chân Như. Vĩnh viển Chân Như. Từ vô thủy đến vô chung.

Chiều mai nở chiều hôm rụng.

“Chiều” là chữ để chỉ thời gian.Chiều là “buổi”. Nở hay rụng cũng chỉ là Chân Như . Nở và rụng là sự biểu hiện của Chân Như. Mọi sự là trò chơi không đáy của Chân Như hay Tánh Không, là sự diễn dịch của Chân Như hay Tánh Không. Trong đại dương, chỉ có những ai tự đồng hóa mình, tự công nhận mình là bọt sóng mới chịu sự chìm nổi, sanh diệt, thêm bớt, dơ sạch…..Không đồng hóa với cái gì cả thì chỉ có đại dương không sanh không diệt không dơ không sạch, không tăng không giảm.

Nếu không thấy buổi mai hoa nở, buổi chiều hôm rụng thì đây là một cái tâm vô tri vô giác như gỗ đá.

Nếu chỉ thấy buổi mai hoa nở, buổi chiều hôm rụng thì đây là một cái tâm của người bình thường, lệ thuộc vào sanh già bệnh chết.

Nếu thấy lòng hoa là Bụt, thì có nở có rụng chỉ là chân lý quy ước tương đối; còn trong chân lý tối hậu, tuyệt đối thì hoa nở hoa rụng mà thật ra không nở không rụng.Nói cách khác, sanh diệt mà chẳng sanh diệt, sanh tử mà Niết bàn, sanh tử tức Niết bàn.

Sự lạ cho hay tuyệt sắc không

Lạ là “diệu” như chữ diệu trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Sự lạ là diệu pháp, là “phép lạ” .Tuyệt là cắt đứt, chấm dứt.

Sự lạ ấy vượt khỏi tâm, ý, ý thức.Vượt khỏi ý niệm về sắc và không, vì sắc và không bây giờ chỉ là hý luận.

Bài thơ chấm dứt bằng sự chấm dứt của mọi ý niệm, mọi ngôn ngữ. Khi thực tại hiển lộ rõ ràng và hoàn toàn với cái thấy thì “ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ tuyệt”.

Bông bụt bây giờ không chỉ có lòng là Bụt. Mà bây giờ bông bụt là Bụt, là Phật. (“Tất cả các pháp đều là Phật pháp” Kinh Kim Cương).Hoa ấy là Hoa Phật. Cái thấy hoa ấy là cái thấy Phật.

Đây là cái thấy của người ngộ đạo:

Các pháp từ xưa nay

Thường vốn tự tịch diệt

(Chư pháp tùng bổn lai

Thường tự tịch diệt tướng)

Kinh Pháp Hoa

Bông dâm bụt, trong con mắt thanh tịnh (pháp nhãn thanh tịnh) của Nguyễn Trãi, là hoa Pháp (Pháp Hoa), là hoa Phật. Đã là Pháp, Phật thì không thể nghĩ bàn, vì vượt khỏi sự tới lui của ngôn ngữ và sự khởi lên của tư tưởng:

Pháp trụ pháp vị ấy

Tướng thế gian thường trụ.

(Thị pháp trụ pháp vị

Thế gian tướng thường trụ)

Kinh Pháp Hoa

Thơ ca là ngôn ngữ tìm về cội nguồn tối hậu của nó. Tìm về cội nguồn tối hậu hay tìm đến tương lai rốt ráo cũng chỉ là một cách nói. Cội nguồn tối hậu hay tương lai rốt ráo đó là cái “tuyệt sắc không”, là cái “thường tự tịch diệt tướng”.Chạm đến được cội nguồn của nó, ngôn ngữ trở thành bất tử.

Lịch sử và những biến cố  thời cuộc, dù tốt dù xấu, rồi sẽ qua đi. Nhưng ngôn ngữ và tác giả cùa nó thì còn lại.Ngôn ngữ thì còn lại một khi nó đã chạm đến được cái thể tánh của nó, cái lòng của nó, tức là cái vĩnh cửu, cái vô sanh.

Nguyễn Trãi đã chạm đến được cái bản chất của ngôn ngữ, và như thế, của cả lịch sử.Bản chất của ngôn ngữ và của lịch sử là bản chất của một bông bụt chiều mai nở, chiều hôm rụng.Bản chất đó là cái vô sanh, cái vĩnh cửu. Ông không cần lịch sử minh oan cho cái chết của ông, như vua Lê Thánh Tông đã làm về sau này.

Dù sinh ra sau ông năm thế kỷ, tôi cảm thấy hãnh diện vì được làm người Việt Nam, làm một đồng bào hậu sinh của ông. Đất nước Việt Nam đã sinh ra những con người như ông, đất nước ấy cũng phải bất tử và vinh quang như ông.

Bởi vì tôi chưa từng được đọc một bài thơ nào về hoa, dù ở phương Đông hay phương Tây. Dù cổ  điển hay hiện đại, đem lại sự thỏa mãn trọn vẹn như bài thơ này.

Điều hướng nội dung<< THỜI GIAN CÓ HAY KHÔNGSỨ MẠNG THI SĨ: NHỚ VÀ TƯỞNG >>
Chia sẻ bài viết này trên trang cá nhân của bạn:
  •  
  •  


Để lại một phản hồi

Địa chỉ email của bạn sẽ không hiển thị công khai.


*